vanban.org

Bản án 07/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 24/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T (Lượm Em) phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999 đối với bị cáo Ngô Văn T (Lượm Em).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TAND tỉnh Khánh Hòa;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Tuấn "Cướp tài sản" - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T (Lượm Em) phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999 đối với bị cáo Ngô Văn T (Lượm Em).
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 53 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DK
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HS-ST
Ngày 24-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Hùng Cường

bà Thái Thị Đang

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Ái Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện DK - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện DK xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2017/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2017/HSST-QĐ ngày 06 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Ngô Văn T (Lượm Em) - sinh năm 1994 tại DK; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ 4 thôn TM 1 - xã DL - DK - Khánh Hòa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô B (1954) và bà Nguyễn Thị C (1950); Tiền sự, tiền án: không; Bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2017; Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa: ông Đặng Văn Pháo - luật sư Văn phòng luật sư Đặng Văn Pháo bào chữa cho bị cáo T theo yêu cầu của bị cáo.

Địa chỉ: 108 Trịnh Phong - tp. NT - Khánh Hòa; có mặt.

* Người bị hại:

- ông Nguyễn Văn A - sinh năm 1954

Trú tại: thôn T - xã VP - huyện VN - Khánh Hòa.

- anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1974

Trú tại: thôn C - xã VT - huyện VN - Khánh Hòa.

- chị Đặng Thị P - sinh năm 1975

Trú tại: thôn C - xã VT - huyện VN - Khánh Hòa.

Tất cả đều vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- ông Nguyễn Văn Đ - 1970 Nơi ĐKNKTT: thôn P - xã PĐ - tp. NT - Khánh Hòa. Tạm trú: thôn Đ - xã DT - huyện DK - Khánh Hòa;

- ông Ngô Văn M - sinh năm 1964 Trú tại: tổ 4 thôn TM1 - xã DL - huyện DK - Khánh Hòa.

- anh Ngô Văn Th - sinh năm 1990 Trú tại: tổ 4 thôn TM1 - xã DL - huyện DK - Khánh Hòa. Tất cả đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ông Nguyễn Văn A cùng vợ chồng chị Đặng Thị P và anh Nguyễn Văn C là người chăn vịt thuê cho ông Nguyễn Văn Đ tại trại vịt của ông Đ (tại thôn PL - xã DT - huyện DK). Hằng ngày, ông A, anh C và chị P có trách nhiệm trông coi, quản lý đàn vịt cho ông Đ. Chiều ngày 05/10/2016, sau khi uống rượu xong, Ngô Văn M, Ngô Văn Th và Ngô Văn T rủ nhau đến trại vịt của ông Đ bắt vịt. Khi đi, mỗi người mang theo một khúc cây gỗ để sử dụng khi bị chống trả. Th điều khiển xe mô tô chở M, T một mình điều khiển xe mô tô (cả hai xe mô tô không xác định được biển kiểm soát). Đến nơi, T đứng bên ngoài, M và Th vào trại vịt gặp ông A, chị P và anh C. M và Th dùng cây gỗ đánh nhiều cái vào người ông A, anh C và chị P, M yêu cầu ông A, anh C, chị P giao điện thoại di động nhằm ngăn chặn những người này dùng điện thoại liên lạc cho chủ trại vịt và Công an. Do sợ bị đánh nên chị P lấy hai điện thoại di động hiệu Sony M5 và Iphone 6 Plus, ông A cũng lấy một điện thoại di động đưa cho M. M đưa số điện thoại di động nói trên cho Th, Th lấy điện thoại của ông A tháo sim bỏ đi và ném trả điện thoại lại cho ông A. Ngay lúc đó, Ngô Văn T từ bên ngoài trại vịt chạy vào, dùng tay tát vào mặt ông A hai cái rồi đi ra chuồng vịt để bắt vịt. M yêu cầu ông A, anh C và chị P bắt vịt đưa cho M. Ông A, anh C vào chuồng vịt bắt vịt bỏ vào bao đưa cho M, cùng với số vịt T tự bắt, tất cả được 13 con. Sau đó, M, Th và T điều khiển xe mô tô về lại nhà Th. Trên đường về, M và Th khai làm rơi hai chiếc điện thoại của vợ chồng anh C, chị P và hai khúc cây mang theo. Sau khi sự việc xảy ra, anh C bị bầm bên tay trái, ông A bị xước tại mu cổ tay trái nhưng không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật. Tại bản kết luận định giá tài sản số 31, 32 ngày 14/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện DK kết luận 13 con vịt có giá trị là 650.000đ, 02 điện thoại di động có tổng giá trị là 14.800.000đ (Iphone 6 Plus 8.300.000đ, Sony M5 6.300.000đ). Sau khi phạm tội, Ngô Văn T đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện DK đã có Quyết định truy nã số 04, ngày 14/3/2017. Ngày 16/7/2017, T bị bắt theo lệnh truy nã.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 25/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật hình sự 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999 xử phạt bị cáo T từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: đã được xem xét tại bản án số 30/2017/HSST ngày 16/5/2017 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định ngày 05/10/2016, bị cáo đã cùng với ông M và anh Th sử dụng cây gỗ tấn công ông A, anh C và chị P để lấy đi 13 con vịt, 02 điện thoại di động (riêng bị cáo T đã lấy đi 3 con vịt). Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện DK truy tố bị cáo tội danh trên theo điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe và quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, điều này thể hiện thái độ xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa tiền sự, tiền án, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của người bị hại nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Những tình tiết giảm nhẹ này của Bộ luật hình sự 2015 và Bộ luật hình sự 1999 đều giống nhau. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T theo Bộ luật hình sự 1999.

[3] Về trách nhiệm dân sự: tại bản án số 30/2017/HSST ngày 16/5/2017, Tòa án đã giải quyết phần trách nhiệm dân sự giữa những người bị hại với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách phần dân sự về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu. [4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T (Lượm Em) phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999 đối với bị cáo Ngô Văn T (Lượm Em). Xử phạt: bị cáo Ngô Văn T 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2017. Về trách nhiệm dân sự: Tách phần dân sự giữa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thành vụ kiện dân sự khác khi người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu. Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T (Lượm Em) nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ