vanban.org

Bản án 07/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 13/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”

Xử phạt Nguyễn Thành C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 07-12-2017. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HS-ST
Ngày 13-3-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hoa Kiều và Bà Lê Thị Ngọc Ánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia

phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa á nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành C, sinh năm 1995 tại Tiền Giang;

Nơi cư trú Ấp Quang T, xã Quơn L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp Làm thuê; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị X sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ và chưa có con; tiền án không, tiền sự không; nhân thân tốt; ngày bị bắt tạm giam ngày 07-12-2017 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành C: Ông Nguyễn Văn Dũng, luật sư-Văn phòng luật sư Nguyễn Văn Dũng, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang; (có mặt)

- Bị hại: Lê Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú ấp Quang P, xã Quơn L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; (có mặt)

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

1. Trần Văn U, sinh năm 1976; Nơi cư trú ấp Quang P, xã Quơn L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

2. Lƣu Văn Ng, sinh năm 1994; Nơi cư trú ấp Quang P, xã Quơn L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

3. Lƣu Văn Kh, sinh năm 1994; Nơi cư trú ấp Quang P, xã Quơn L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

4. Nguyễn Minh Q, sinh năm 1990; Nơi cư trú ấp Quang P, xã Quơn L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

5. Nguyễn Trƣờng T, sinh năm 1991; Nơi cư trú ấp Tân P1, xã Tân Thuận B, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

6. Lê Văn L, sinh năm 1996; Nơi cư trú ấp Quang P, xã Quơn L, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03-9-2017 Lê Văn T đến quán cà phê- Bi da của anh Trần Văn U tại ấp Quang Phú, xã Quơn Long, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang thì gặp Nguyễn Minh Q, Lưu Văn Kh, Lưu Văn Ng, Lê Văn L và Nguyễn Thành Ch đang uống bia nên T vào ngồi uống chung. Trong lúc uống bia giữa T và Ch xảy ra cự cải do T kêu tên cha mẹ của C, mọi người trong bàn can ngăn. Khi C đánh bi da với Lê Văn L thì T đến lấy trái bi không cho C chơi, nên C dùng phần gốc (đầu to) cây cơ đánh T 01 cái trúng vào đầu T gây thương tích.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 238/CN-BV ngày 29-9-2017 của Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang xác nhận tình trạng thương tích của anh Lê Văn T như sau:

- Lâm sàng: Tỉnh, sinh hiệu ổn; Bầm mí mắt phải; Đau đầu; Giảm thỉnh lực tai trái.

- Cận lâm sàng; CTs đầu: Dập não thái dương trái, tụ máu ngoài màng cứng bán cầu phải.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 1305/YC-BVCR ngày 26-9-2017 của Bệnh viện Chợ Rẫy xác nhận tình trạng thương tích của Lê Văn T như sau:

- Vùng đầu, mặt: Sưng chẩm phải; Sưng, bầm mắt phải; Máu tụ dưới màng cứng thái dương phải. Dập não xuất huyết đính trán trái, thái dương hai bên; CT Scan sọ não: Dập xuất huyết não trán đính trái, thía dương hai bên. Tụ máu dưới màng cứng thái dương phải. Xuất huyết liềm não.

- Khám ngoại chẩn: Điếc tai trái sau chấn thương đầu.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 169/17BVCHPHCNTPHCM ngày 28-9-2017 của Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng thành phố Hồ Chí Minh xác nhận tình trạng thương tích lúc vào viện của Lê Văn T như sau: Kết quả CT Scan: Máu tụ dưới màng cứng thái dương phải. Dập não xuất huyết đính trán phải, thái dương hai bên.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 323/2017/TgT ngày 10-10-2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận Lê Văn T:

+ Máu tụ dưới màng cứng thái dương phải. Dập não xuất huyết đính trán phải, thái dương hai bên.

+ Tai trái thính lực giảm 80%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Văn T là: 35% (ba mươi lăm phần trăm).

Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 24-01-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thành C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Bị cáo Nguyễn Thành C từ 03 – 04 năm tù.

* Trách nhiệm bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo bồi thường cho anh Lê Văn T số tiền 35.130.863 đồng. Đối với chi phí mổ tai trái sau này anh T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Anh Trần Văn U đã nhận 100.000 đồng tiền bị cáo bồi thường cây cơ. Tại Tòa anh U không có ý kiến yêu cầu gì khác, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng: 01 cây cơ đánh bi da bằng gỗ màu nâu đen, tròn, tổng chiều dài 140cm, đường kính đầu lớn nhất là 3,5cm, đường kính đầu nhỏ nhất là 1,5cm. Cây cơ bị gãy làm hai đoạn, một đoạn dài 65cm, một đoạn dài 75cm, trên đầu có phần lõi bằng kim loại màu đen dài 03cm, đường kính 0,7cm dùng để nối giữa hai đoạn cây cơ. Không còn giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố bị cáo. Có nhiều lời lẽ phân tích các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa tiền án- tiền sự, cha được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3… Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận có dùng cây cơ bi da có chiều dài khoảng 140cm màu nâu đen đánh anh Lê Văn T 01 cái vào vùng đầu gây thương tích và xác định vết thương theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 323/2017/TgT ngày 10-10-2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang là do bị cáo gây ra.

Bị hại Lê Văn T xác định thương tích theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 323/2017/TgT ngày 10-10-2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang do một mình bị cáo dùng cây cơ trực tiếp đánh gây thương tích. Anh Lê Văn T thừa nhận có phần lỗi do uống rượu có nói tên cha của bị cáo nên phát sinh mâu thuẫn và có lấy trái bi không cho bi cáo chơi nên bị cáo mới dùng cây cơ đánh bị hại.

Những người làm chứng Trần Văn U, Lưu Văn Ng, Lưu Văn Kh, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Trường T, Lê Văn L đều xác định do bị hại có nói đến tên mẹ bị cáo và có lấy trái bi da không cho bị cáo chơi nên bị cáo có dùng cây cơ đánh bi da đánh bị hại 01 cái trúng vào dùng đầu gây thương tích. Ngoài bị cáo không có ai khác gây thương tích cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì trước. Chỉ vì trong lúc nhậu bị hại có nói “Chi Chín Xá” nhiều lần nên giữa bị cáo và anh T xảy ra cự cải, mâu thuẫn. Tiếp sau đó bị cáo đang đánh bi da thì bị hại lại có hành động lấy trái bi da không cho bị cáo chơi. Do bức xúc, sẳn trên tay cầm cây cơ đánh bi da nên bị cáo trở đầu cây cơ cầm đánh anh T 01 cái gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Văn T là: 35% (ba mươi lăm phần trăm).

Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm gây án, nên bị cáo phải trách nhiệm hình sự về hành vi phạm đã gây ra.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “ Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm”. Hành vi dùng cây cơ đánh bi da được xác định là hung khí nguy hiểm theo quy định pháp luật đánh vào dùng đầu người bị hại gây thương tích với tỷ lệ thương tật 35% đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tuy nhiên tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đếm điểm k khoản 1 Điều này”. Như vậy, mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 2015 nhẹ hơn hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999, nên bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng quy định có lợi của Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ điểm b khoản 1 Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09-01-2018 của Tòa án nhân dân tối cao, cần áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hình phạt nhẹ hơn để xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thành C.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại, đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì nóng giận tức thời, không kiềm chế được bản thân do hành động không phải của bị hại mà bị cáo dùng cây cơ đánh vào đầu gây thương tích làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của anh Lê Văn T, điều đó cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; có nhân thân tốt, chưa tiền sự, tiền án; Cha (ông Nguyễn Văn Đắng) có công với đất nước được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3; bị hại có lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, xét cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt trong khung hình phạt liền kề, như vậy cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lời bào chữa của luật sư Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xử lý vật chứng: 01 cây cơ đánh bi da bằng gỗ màu nâu đen, tròn, tổng chiều dài 140cm, đường kính đầu lớn nhất là 3,5cm, đường kính đầu nhỏ nhất là 1,5cm. Cây cơ bị gãy làm hai đoạn, một đoạn dài 65cm, một đoạn dài 75cm, trên đầu có phần lõi bằng kim loại màu đen dài 03cm, đường kính 0,7cm dùng để nối giữa hai đoạn cây cơ. Không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Lê Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản: Tiền thuốc điều trị, viện phí 16.130.863 đồng; Tiền xe 1.500.000 đồng; Tiền ngày công lao động 250.000 đồng x 30 ngày = 7.500.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng. Tổng cộng 35.130.863 đồng

Bị cáo đồng ý bồi thường các chi phí tiền thuốc điều trị, viện phí, tiền xe, tiền công lao động, tiền tổn thất tinh thần với số tiền 35.130.863 đồng theo yêu cầu của bị hại. Bị cáo đã bồi thường trước 2.000.000 đồng, nên bồi thường tiếp 33.130.863 đồng cho bị hại. Xét bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại, nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo theo yêu cầu của bị hại với số tiền còn lại 33.130.863 đồng.

- Đối với tiền mổ tai trái trước đây anh T yêu cầu bị cáo bồi thường 100.000.000 đồng, tại phiên tòa anh không yêu cầu, sau này nếu có phát sinh sẽ khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác. Yêu cầu trên của anh T là phù hợp với quy định pháp luật, do đó anh Lê Văn T có quyền khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu, để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Anh Trần Văn U đã nhận 100.000 đồng tiền bị cáo bồi thường cây cơ. Tại Tòa anh U không có ý kiến yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.656.500 đồng án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt Nguyễn Thành C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 07-12-2017.

+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Thành C có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Văn T 33.130.863 (ba mươi ba triệu một trăm ba mươi ngàn tám trăm sáu mươi ba) đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh Lê Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Thành C chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây cơ đánh bi da bằng gỗ màu nâu đen, tròn, tổng chiều dài 140cm, đường kính đầu lớn nhất là 3,5cm, đường kính đầu nhỏ nhất là 1,5cm. Cây cơ bị gãy làm hai đoạn, một đoạn dài 65cm, một đoạn dài 75cm, trên đầu có phần lõi bằng kim loại màu đen dài 03cm, đường kính 0,7cm dùng để nối giữa hai đoạn cây cơ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-02-2018)

+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.656.500 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Bị cáo, bị hại có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ