- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2018/HSST ngày 31/01/2018 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN B TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2018/HS-ST Ngày: 13/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Trịnh Đức Mậu và bà Lê Thị Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13/3/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2018/HSST ngày 31/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST – HS ngày 27/02/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn V, xã M, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị T. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 19/11/2009, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc thời hạn 24 tháng, đến ngày 23/11/2011 chấp hành xong trở về địa phương. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/01/2018, chuyển tạm giam từ ngày 10/01/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam. (Có mặt).
* Bị hại: Anh Trần Văn H , sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện B, tỉnh Hà Nam. (Có mặt)
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện B, tỉnh Hà Nam. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 03/01/2018, Nguyễn Ngọc T uống rượu ở nhà rồi đi xe đạp vòng quanh thôn V. Khoảng 22 giờ đêm, T đi đến cổng đình làng V thì dừng xe lại và có lời nói tục. Khi đó, anh Trần Văn H là trưởng thôn V và ông Nguyễn Hữu B đang ngồi uống nước trước hiên nhà khuyến học cạnh đình làng. Anh H đi sang sân đình và nói với T “Thôi"cháu"về"đi"đêm"hôm"ầm"ĩ"cái"gì"ở"đây” thì T chửi anh H và đi đến cổng phụ phía tây đình làng nhặt 01 cục bê tông kích thước (20 x 15 x 11)cm rồi chạy đến đối diện anh H dùng tay phải đập 01 nhát theo hướng từ sau về trước vào vùng mặt bên phải của anh H làm anh H ngã xuống sân đình. Thấy vậy, ông B chạy sang sân đình và quát thì T chạy đến gốc cây phượng phía tây sân đình nhặt gạch và bê tông ném về phía anh H và ông B nhưng không trúng. Cùng lúc đó, lực lượng Công an xã M đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện, khống chế và đưa T vào khu vực đình làng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm 02 cục bê tông, cục thứ nhất có kích thước (20 x 12 x 11)cm, cục thứ hai có kích thước (19 x 8 x 10)cm.
Ngày 04/01/2018, anh H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xử lý hành vi của T gây thương tích cho anh vào ngày 03/01/2018.
Tại Bản kết luận giám định số 01/18/TgT ngày 05/01/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Nam kết luận thương tích của anh H: Do yêu cầu giám định khẩn cấp của Cơ quan CSĐT Công an huyện B nên tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân Trần Văn H tại thời điểm giám định là 03% (ba"phần"trăm). Các vết rách da vùng mặt do vật có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 07/TgT ngày 23/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam kết luận thương tích của anh H: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (ba"phần"trăm).
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo T đã tác động và nhờ cậu ruột là ông Trần Minh N, sinh năm 1971, trú tại thôn V, xã M, huyện B bồi thường cho anh H số tiền 3.180.000 đồng. Anh Hà đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự. Ông N không yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả số tiền đã bồi thường cho anh H.
Tại Cáo trạng số 08/CT - VKS ngày 30/01/2018 và tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi dùng cục bê tông đánh anh T của mình như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giàm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, bị hại – anh H trình bày việc anh bị T dùng cục bê tông đánh vào đầu như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tội danh: Xét thấy hành vi ngay lập tức nhặt và cầm một cục bê tông đánh vào vùng mặt bên phải của anh Trần Văn H khi được anh H khuyên bảo chấm dứt hành vi gây mất trật tự công cộng làm anh Hà tổn thương cơ thể 03% (ba"phần"trăm)"của bị cáo Nguyễn Ngọc T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết định tội “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” được quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” theo các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do tình tiết “Phạm tội có tính chất côn đồ”đã là tình tiết định tội nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đã vô cớ dùng hung khí nguy hiểm xâm phạm trực tiếp sức khỏe của của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa bàn phạm tội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, hành vi phạm tội có tính chất côn đồ do vậy Hội đồng xét xử thấy phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc, áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, thái độ ăn năn hối cải và tác động của bị cáo để người thân bồi thường chi phí điều trị thương tích cho anh Hà để quyết định mức hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn H không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Xét 02 cục bê tông là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng.
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Thắng bị bắt, tạm giữ (04/01/2018).
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 02 cục bê tông được xác định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/02/2018 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Lục và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Lục.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai; báo cho bị cáo T, bị hại – anh H biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:
| - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã M, huyện B; - Bị cáo; - Bị hại - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Trần Anh Dũng (Đã ký) |