vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Q đƣợc ly hôn với anh Dƣơng Công T.

Về con chung: Xử giao con chung là Dƣơng Diễm M sinh ngày 03/3/2010 cho chị Q trực tiếp nuôi dƣỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Q về việc không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con chung. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai đƣợc cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q và bị đơn anh Dương công T"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Q đƣợc ly hôn với anh Dƣơng Công T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CHÍ LINH
TỉNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HNGĐ- ST
Ngày 15/3/2018
“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con
khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH - HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết.

* Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đới Văn Trinh, ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Việt- Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh - Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 354/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017 về việc "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q - sinh năm 1988

Nơi ĐKHKTT: Khu dân cƣ (KDC) L, phƣờng T, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng.

Nơi tạm trú: Số 261B T.P, khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng- Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Dƣơng Công T - sinh năm 1986

Trú tại: KDC L, phƣờng T, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng- Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Người làm chứng:

3.1 Bà Ngô Thị T- Sinh năm 1962

Địa chỉ: KDC L, phƣờng T, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng- Có mặt tại phiên tòa.

3.2 Bà Nguyễn Thị T- Sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu 2, phƣờng Đ, thị xã Đ, Quảng Ninh- Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/10/2017 và các bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày như sau:

Chị và anh Dƣơng Công T kết hôn với nhau ngày 18/01/2010 có đăng ký kết hôn tại UBND phƣờng T, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh T tại khu dân cƣ L, phƣờng T, thị xã C. Thời gian đầu vợ chồng chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2014 vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T có nghề sửa chữa điện thoại tại nhà nhƣng không chịu khó làm ăn, khi làm đƣợc tiền lại không đƣa cho chị để lo sinh hoạt trong gia đình dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Ngoài ra anh T là ngƣời lầm lì ít nói, vợ chồng ít nói chuyện, không có sự quan tâm đến nhau. Đến tháng 10/2016 chị xác định vợ chồng không chung sống đƣợc với nhau nên chị đã thuê cửa hàng và chuyển về tạm trú tại khu L, thị trấn N, tỉnh Hải Dƣơng ở và bán hàng từ đó đến nay. Anh T có nhắn tin bảo chị về nhƣng chị không về. Vợ chồng ly thân nhau từ đó và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị đƣợc ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Dƣơng Diễm M sinh ngày 03/3/2010 hiện đang ở cùng anh T. Nếu vợ chồng ly hôn chị xin đƣợc trực tiếp nuôi cháu M và không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị xác định vợ chồng không tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Dương Công T mặc dù đã được Tòa án giao Thông báo về việc thụ lý và được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có lời khai trình bày ý kiến của mình.

Tại phiên toà hôm nay:

Chị Q vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của những ngƣời tiến hành tố tụng và việc chấp hành pháp luật của của nguyên đơn là đảm bảo đúng pháp luật. Anh T đƣợc Tòa án triệu tập nhiều lần nhƣng đều vắng mặt là không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Q, xử cho chị Nguyễn Thị Q đƣợc ly hôn anh Dƣơng Công T.

- Về con chung: Xử giao con chung là Dƣơng Diễm M sinh ngày 03/3/2010 cho chị Q trực tiếp nuôi dƣỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Q về việc không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Q phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Dƣơng Công T là bị đơn trong vụ án đã đƣợc triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhƣng vắng mặt tại phiên tòa do vậy Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

Anh Dƣơng Công T là bị đơn trong vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của Nguyên đơn, biên bản ghi lời khai những ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập đƣợc có đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị Q và anh Dƣơng Công T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp, đƣợc pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống chị Q và anh T có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẻ với nhau trong cuộc sống và anh chị đã ly thân nhau từ năm 2016 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Q xin ly hôn, anh T đã biết nhƣng không tham gia các phiên hòa giải do Tòa án tiến hành. Điều đó thể hiện anh T đã bỏ mặc, không có biện pháp để cải thiện tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Xét mâu thuẫn giữa chị Q và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt đƣợc. Do vậy căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Q đƣợc ly hôn anh Dƣơng Công T.

Về con chung: Chị Q và anh T có 01 con chung là Dƣơng Diễm M sinh ngày 03/3/2010 hiện đang ở cùng anh T. Nay chị Q xin đƣợc trực tiếp nuôi cháu M và không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T mặc dù đã biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án nhƣng anh không có quan điểm gì về việc nuôi con. Cháu M có nguyện vọng đƣợc ở với chị Q. Xét chị Q có đủ điều kiện nuôi con. Do vậy cần giao cháu M cho chị Q trực tiếp nuôi. Cần chấp nhận sự tự nguyện của chị Q về việc chị Q không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Q trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội.

- Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Q đƣợc ly hôn với anh Dƣơng Công T.

- Về con chung: Xử giao con chung là Dƣơng Diễm M sinh ngày 03/3/2010 cho chị Q trực tiếp nuôi dƣỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Q về việc không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con chung.

Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai đƣợc cản trở.

Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Chị Q phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Đƣợc đối trừ với số tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số AA/2016/0000227 ngày 16/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chí Linh. Chị Q đã nộp đủ án phí.

Báo chị Q biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ