vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lầu Y D và anh Vừ Bá X là vợ chồng, buộc hai người phải chấm dứt việc chung sống với nhau như vợ chồng.

Về con cái: Giao các con chung gồm Vừ Y H sinh ngày 2/11/2006, Vừ Bá C sinh ngày 9/11/2006, Vừ Y N sinh ngày 12/7/2007, Vừ Y D sinh ngày 10/7/2009 và cháu Vừ Nù C, sinh ngày 22/12/2012 cho chị Lầu Y D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vừ Bá X. Người không trực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Lầu Y D với anh Vừ Bá X"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lầu Y D và anh Vừ Bá X là vợ chồng, buộc hai người phải chấm dứt việc chung sống với nhau như vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 3 năm 2018.
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vi Văn Dƣơng

Bà Lô Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Vƣơng Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2018/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2018 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXX-ST ngày 26 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lầu Y D, sinh năm 1980; Địa chỉ: Bản PK, xã N, huyện KS, tỉnh NA; Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Vừ Bá X, sinh năm 1973; Địa chỉ: Bản PK, xã N, huyện KS, tỉnh NA; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 12 năm 2017 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn chị Lầu Y D trình bày: Chị và anh Vừ Bá X tổ chức đám cưới và chung sống với nhau vào năm 1997 nhưng không đăng ký kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng về sau anh Vừ Bá X nghiện ma túy, thường xuyên đánh đập, hành hạ chị Lầu Y D, không còn quan tâm đến gia đình. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn vì vậy ngày 28 tháng 12 năm 2017 chị Lầu Y D đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Vừ Bá X.

Về con: Vợ chồng có 07 người con, hai cháu đầu là Vừ Bá A, Vừ Y X đã trưởng thành và xây dựng gia đình riêng, 05 cháu còn lại chưa trưởng thành hiện đang ở với chị gồm Vừ Y H sinh ngày 2/11/2006, Vừ Bá C sinh ngày 9/11/2006, Vừ Y N sinh ngày 12/7/2007, Vừ Y D, sinh ngày 10/7/2009 và cháu Vừ Nù C, sinh ngày 22/12/2012. Nay ly hôn do anh Vừ Bá X nghiện ma túy nên không có điều kiện và khả năng chăm sóc, nuôi dạy các con vì vậy chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 05 con chưa trưởng thành, không yêu cầu anh Vừ Bá X cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Hai bên đã tự thỏa thuận phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về khoản nợ: Vợ chồng không nợ ai.

Về phía bị đơn anh Vừ Bá X vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh cũng thống nhất như trình bày của nguyên đơn về thời gian và điều kiện kết hôn, hai người tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 1997 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn, anh Xềnh thừa nhận là có nghiện ma túy, ít quan tâm đến vợ con nhưng chưa đến mức phải ly hôn. Về con cái, tài sản anh thống nhất như chị Lầu Y D khai, anh cho rằng do anh không đồng ý ly hôn nên về con cái và tài sản anh không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Do vợ chồng kết hôn nhưng không có đăng ký nên đây là cuộc hôn nhân không hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận chị Lầu Y D và anh Vừ Bá X là vợ chồng. Về con: Hai cháu đầu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn lại năm cháu chưa thành niên, xét anh Vừ Bá X nghiện ma túy nên không có khả năng và điều kiện để nuôi con, các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ và chị Lầu Y D cũng có yêu cầu được nuôi cả 5 con, không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị Tòa án giao cả 5 con cho chị Lầu Y D trực tiếp nuôi cả 5 con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vừ Bá X; Về tài sản và các khoản nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn chị Lầu Y D thuộc hộ nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lầu Y D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ tài liệu và các tình tiết trong vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hôn nhân: Chị Lầu Y D và anh Vừ Bá X tổ chức đám cưới và sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 1997, nhưng không đăng ký kết hôn, theo quy định của pháp luật thì hai bên đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng đến thời điểm xin ly hôn giữa chị Lầu Y D và Vừ Bá X vẫn không đăng ký kết hôn do đó trong mỗi quan hệ giữa chị Lầu Y D và Vừ Bá X không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay có bên yêu cầu ly hôn, Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Lầu Y D và anh Vừ Bá X là vợ chồng.

Về con cái: Mặc dù ngày sinh của các cháu Vừ Bá C, sinh ngày 9/11/2006, Vừ Y H, sinh ngày 2/11/2006, Vừ Y N, sinh ngày 12/7/2007 có sự bất hợp lý, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh tại UBND xã N (nơi khai sinh cho các cháu) thì do thiếu hiểu biết về pháp luật nên gia đình đăng ký khai sinh muộn, quá trình đăng ký khai sinh tại xã cũng có sự nhầm lẫn. Nay hồ sơ gốc của các cháu đều có ngày tháng năm sinh như vậy nên không thay đổi được vì vậy Tòa án chấp nhận ngày tháng năm sinh đó của các cháu để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về quyền và nghĩa vụ nuôi con: Thấy rằng, vợ chồng có 7 người con nhưng hai cháu đầu là là Vừ Bá A, Vừ Y X đã trưởng thành và xây dựng gia đình riêng, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét. 05 (Năm) cháu còn lại chưa trưởng thành gồm Vừ Y H sinh ngày 2/11/2006, Vừ Bá C sinh ngày 9/11/2006, Vừ Y N sinh ngày 12/7/2007, Vừ Y D, sinh ngày 10/7/2009 và cháu Vừ Nù C, sinh ngày 22/12/2012. Xét anh Vừ Bá X hiện đang nghiện ma túy, khả năng và điều kiện nuôi dạy, chăm sóc con có phần hạn chế, các cháu đều có nguyện vọng ở với chị Lầu Y D, nguyên đơn cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các cháu và không yêu cầu anh Vừ Bá X cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến gì nên Tòa án chấp nhận, giao cả 05 con chưa trưởng thành cho chị Lầu Y D trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị Lầu Y D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vừ Bá X.

Về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Đây là vụ về ly hôn đáng ra chị Lầu Y D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng nguyên đơn thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí cho nguyên đơn.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lầu Y D và anh Vừ Bá X là vợ chồng, buộc hai người phải chấm dứt việc chung sống với nhau như vợ chồng.

2. Về con cái: Giao các con chung gồm Vừ Y H sinh ngày 2/11/2006, Vừ Bá C sinh ngày 9/11/2006, Vừ Y N sinh ngày 12/7/2007, Vừ Y D sinh ngày 10/7/2009 và cháu Vừ Nù C, sinh ngày 22/12/2012 cho chị Lầu Y D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vừ Bá X. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở.

3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lầu Y D.

Hoàn trả cho chị Lầu Y D số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0001244 ngày 02/01/2018 tại Chị cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tuyên bố, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ