vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Trần Thị B và Ông Lê Đức H.

Về nuôi con chung: Giao con Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 03/8/2001 và Lê Thị Mỹ Y, sinh ngày 19/11/2006 cho bà Trần Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Đức H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Trần Thị B và Ông Lê Đức H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và giao đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
TP.ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 27/02/2018
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Xuân Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Hùng

Bà Lê Thị Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Vỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 27/02/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2017/TLST-HNGĐ ngày 10/10/2017 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/01/2018 giữa các đương sự :

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ 3, thôn N, xã T, huyện V, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: Tổ 1, thôn B, xã C, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Đức H, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Tổ 3, thôn N, xã T, huyện V, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: Đội 7, thôn Y, xã T, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 21/9/2017, lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng cũng như ý kiến trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn là Bà Trần Thị B như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà và Ông Lê Đức H tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2000 tại UBND xã E, huyệnS, tỉnh Đ (giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại Hòa Xuân, sau đó mua đất làm nhà sống tại thôn N, xã T, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Thời gian đầu, vợ chồng bà sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn nguyên nhân là do ông H làm ăn gây nợ nần phải bán nhà, ông H lại không có trách nhiệm với vợ con khiến bà và các con chuyển nhà nội của bà ở phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ sinh sống còn ông H về nhà mẹ ở thôn N, xã T sống tạm, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà xác định không còn yêu thương ông H nữa nên xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với Ông Lê Đức H.

2. Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà có hai con chung tên là Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 03/8/2001 và Lê Thị Mỹ Y, sinh ngày 19/11/2006. Từ khi ly thân đến nay, bà làm công việc dọn nhà để kiếm tiền nuôi các con, ông H làm nghề lái xe nên ít về chăm sóc con. Ly hôn, bà B yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung: Không có.

4. Về quan hệ nợ chung: Không có.

Bị đơn là Ông Lê Đức H tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có bản tự khai như sau:

Ông H thống nhất với bà B về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc tại xã Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông H xác nhận mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình, quan điểm sống không hợp nên vợ chồng đã ly thân. Về con chung: Có hai con chung tên là Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 03/8/2001 và Lê Thị Mỹ Y, sinh ngày 19/11/2006. Ly hôn, ông H đồng ý để bà B nuôi con. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Ông Lê Đức H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ nhất, lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do chính đáng, do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định pháp luật.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B, cho bà B được ly hôn với ông H. Về con chung: Giao 02 con Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 03/8/2001 và Lê Thị Mỹ Y, sinh ngày 19/11/2006 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đơn xin xác nhận; bản sao: CMND bà B, sổ hộ khẩu chủ hộ Lê Đức H, giấy khai sinh con Lê Thị Quỳnh N và Lê Thị Mỹ Y; bản chính giấy chứng nhận kết hôn; bản tự khai của: bà B, ông H, cháu Ý, cháu Như; biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị H; biên bản xác minh.

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết các bên đã thống nhất: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án có đủ cơ sở nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa Bà Trần Thị B và Ông Lê Đức H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, không ai xuất trình thêm chứng cứ, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Thủ tục tố tụng đã đảm bảo nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị B và Ông Lê Đức H đăng ký kết hôn vào năm 2000 tại UBND xã E, huyện S, tỉnh Đ (giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01) là đúng quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên có giá trị pháp lý. Trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, cả hai đã ly thân, đời sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng không thể níu kéo được nữa nên Tòa án căn cứ Điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông H.

Về quan hệ con chung: Có hai con Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 03/8/2001 và Lê Thị Mỹ Y, sinh ngày 19/11/2006. Việc bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con cho đến khi các con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại và lợi ích, nguyện vọng của con. Do đó, Tòa án căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và giao đình, giao 02 con Lê Thị Quỳnh N và Lê Thị Mỹ Y cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà B phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 6077 ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 3 Điều 81, Điều 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Bà Trần Thị B và Ông Lê Đức H.

2. Về nuôi con chung: Giao con Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 03/8/2001 và Lê Thị Mỹ Y, sinh ngày 19/11/2006 cho bà Trần Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Đức H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị B phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 6077 ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ