vanban.org

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương A với ông Hồ Thanh H.

Bà Nguyễn Thị Phương A được ly hôn với ông Hồ Thanh H. TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH CHAÙNH TPHCM Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ánh- Hùng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương A với ông Hồ Thanh H.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07 /2018/HNGĐ-ST
Ngày: 09/01/2018
V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân Hƣơng Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyên

2. Ông Huỳnh Minh Chánh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tấn Hải - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 01 năm 2018, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 473/2016/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2016 về việc “Tranh chấp về ly hôn ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 437/2017/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 388/2017QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2017 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phƣơng A, sinh năm:1984

Địa chỉ: B22/36 ấp 2, xã C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Hồ Thanh H, sinh năm:1984

Địa chỉ: 59A/3 ấp 1, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí

Minh

( bà A và ông H vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/5/2016 và bản tự khai bà Nguyễn Thị Phƣơng A trình bày: Bà Nguyễn Thị Phương A và ông Hồ Thanh H chung sống với nhau từ năm 2007, do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy dịnh pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, không có gì xảy ra. Tuy nhiên thì vào năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH CHAÙNH TPHCM

BAÛN AÙN SÔ THAÅM không hạnh phúc. Ông H không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Bà A và ông H đã ly thân từ năm 2016. Bà A đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng vẫn không được. Nay cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà A xin được ly hôn với ông Hồ Thanh H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Phương A và ông Hồ Thanh H có 01 con chung tên Hồ Ngọc Phương T, sinh ngày: 29/9/2009. Sau khi ly hôn, bà A xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Hồ Thanh H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương A đối với ông Hồ Thanh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Phương A nộp đơn xin ly hôn đối với ông Hồ Thanh H. Ông Hồ Thanh H hiện đang cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Hồ Thanh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Thanh H theo qui định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị Phương A có đơn giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà A theo qui định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông Hồ Thanh H đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Phương A và ông Hồ Thanh H nhưng ông H không đến Tòa án để giải quyết. Vì vậy, ông Hồ Thanh H tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông Hồ Thanh H phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ vợ chồng: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 31/7/2007 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Phương A và ông Hồ Thanh H TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH CHAÙNH TPHCM

BAÛN AÙN SÔ THAÅM là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông H không thể hàn gắn được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà A thì giữa bà và ông H bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, như vậy vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa ông H cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ giữa hai người đã không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương A với ông Hồ Thanh H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Phương A và ông Hồ Thanh H có 01 Hồ Ngọc Phương T, sinh ngày: 28/9/2009. Sau khi ly hôn, bà A xin được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Hiện trẻ T đang sống chung với bà A, đồng thời tại biên bản lấy lời khai trẻ T nếu ba mẹ không còn chung sống với nhau nữa thì trẻ T muốn được sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao trẻ Hồ Ngọc Phương T, sinh ngày: 28/9/2009 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do bà A không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử nghĩ nên ghi nhận việc bà A không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Phương A xác nhận không có.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Phương A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 203, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84,116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương A với ông Hồ Thanh H.

Bà Nguyễn Thị Phương A được ly hôn với ông Hồ Thanh H.

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH CHAÙNH TPHCM

BAÛN AÙN SÔ THAÅM

Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 31/7/2007 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Phương A và ông Hồ Thanh H có 01 con chung tên Hồ Ngọc Phương T, sinh ngày: 28/9/2009. Giao trẻ Hồ Ngọc Phương T cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành, ghi nhận việc bà A không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Ông H có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Phương A xác nhận không có.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Phương A chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) mà bà A đã nộp theo biên lai thu số 03648 ngày 13/5/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà A đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ