- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429, 471, điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 thán…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2018/DS-ST. Ngày: 16– 8– 2018. V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
-THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung H
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Thanh Tâm.
2. Ông NguyễnThanh Rực.
Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Lệ Hằng– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích-Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2018/TLST–DS, ngày 05/02/2018, về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2018/QĐXX-ST, ngày 26/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hu nh Thị H.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Bà Lý Kiều Ng.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Lý Minh G. Địa chỉ: Ấp 4 thị trấn L,
huyện L, tỉnh Sóc Trăng; 2. Ông Trần Văn L. Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Sóc
Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 01 năm 2018 và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Hu nh Thị H (Bà H) trình bày: Trong năm 2015, bà Lý Kiều Ng có tham gia chơi hụi do bà Hu nh Thị H làm chủ hụi cụ thể như sau:
- Dây hụi thứ nhất khui vào ngày 30/05/2015 âm lịch, loại hụi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng), dây hụi này có 26 phần, bà Lý Kiều Ng tham gia 02 phần. Hai phần hụi này, bà Ng hốt hụi lần thứ tư số tiền là 16.780.000 đồng và hốt hụi lần thứ chín với số tiền là 18.580.000 đồng. Sau khi hốt hụi, bà Ng đóng thêm được 09 lần hụi chết, hiện còn nợ lại 06 lần hụi chết với số tiền là: 06 lần x 1.000.000 đồng x 02 phần hụi 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
- Dây hụi thứ hai khui vào ngày 10/12/2015 âm lịch, loại hụi tháng 1.000.0000 đồng (một triệu đồng), dây hụi này có 25 phần, bà Lý Kiều Ng tham gia 02 phần. Hai phần hụi này, bà Ng hốt hụi lần thứ sáu số tiền là 16.560.000 đồng và hốt hụi lần thứ bảy với số tiền là 16.560.000 đồng. Sau khi hốt hụi, bà Ng đóng thêm được 07 lần hụi chết, hiện còn nợ lại 09 lần với số tiền là: 09 lần x 1.000.000 đồng x 02 phần hụi 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Tổng hai khoản nợ hụi bà Ng còn nợ bà H số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Nay bà Hu nh Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết: Buộc bà Lý Kiều Ng trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
*Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/03/2018 và các tài liệu khác có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Lý Kiều Ng trình bày: Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc và có tham gia chơi hụi và thống nhất với số tiền nợ hụi còn thiếu. Nhưng việc bà tham gia góp hụi với bà H là bà Tham gia dùm ông Lý Minh G (Ông G). Mặc dù giữa bà và ông G không có làm văn bản thỏa thuận và không có ai biết về việc chơi hụi dùm, nhưng từ sau khi hốt hụi bà Ng đã giao toàn bộ số tiền này cho ông G để sửa máy và sau đó chính ông G là người đóng hụi chết lại cho bà H. Nay với yêu cầu của bà H bà Không đồng ý
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/7/2018 và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Minh G trình bày: Ông thừa nhận là trước đây do thấy hoàn cảnh kinh tế của em mình là bà Lý Kiều Ng gặp khó khăn ông có đứng ra đóng hụi chết cho bà Ng khoảng 50.000.000 đồng trong quan hệ góp hụi giữ bà H và bà Ng. Việc bà Ng khai là tham gia chơi hụi dùm ông và đã giao số tiền hốt hụi cho ông là hoàn toàn không đúng. Ông không thống nhất với ý kiến của bà Ng về việc ông phải có trách nhiệm trả khoản tiền nợ hụi còn thiếu theo yêu cầu của bà H.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/6/2018 và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L trình bày: Ông hoàn toàn thống nhất với lời trình bày cũng như ý kiến của vợ ông là bà Lý Kiều Ng.
* Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diên Viện Kiểm Sát phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Tuy nhiên vụ án đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của Bộ luât tố tụng dân sự, tham gia tố tụng theo triệu tập của tòa án. Tại phiên tòa sơ thâm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2018 của bà Hu nh Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp hợp đồng góp hụi được giao kết giữa bà H với bà Lý Kiều Ng địa chỉ số 136 ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện.
Xét đơn khởi kiện bà Huỳnh Thị H yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Trần Văn L và bà Lý Kiều Ng trả cho bà H 30.000.000 đồng tiền nợ hụi còn thiếu:
-Từ những tình tiết thể hiện trong phần nội dung vụ án nêu trên khẳng định bà Lý Kiều Ng là người trực tiếp tham gia góp hụi, hốt hụi và còn nợ tiền hụi chưa đóng của 02 chân hụi tổng cộng là 30.000.000 đồng như bà Hu nh Thị H đã khai. Nhưng theo bà Ng bà tham gia góp hụi với bà H là chơi hụi dùm cho ông Lý Minh G. Vì toàn bộ số tiền hốt hụi bà đã giao lại cho ông G và sau khi hốt hụi thì ông G là người trực tiếp đóng hụi chết. Song bà không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh cho lời khai của bà về việc này là có căn cứ. Về phía ông Lý Minh G ông chỉ thừa nhận là ông có đóng hụi chết dùm bà Ng khoảng 50.000.000 đồng do lúc đó ông thấy hoàn cảnh kinh tế của bà Ng khó khăn, còn việc bà Ng cho rằng tham gia góp hụi với bà H dùm ông và đã giao toàn bộ số tiền hụi đã hốt cho ông là không đúng. Sự thừa nhận của ông G về việc đóng hụi chết cho bà Ng là không đủ cơ sơ kết luận ông G có nhờ bà Ng tham gia chơi hụi với bà H và đã nhận số tiền hốt hụi từ bà Ng, hơn nữa bà Ng là người trực tiếp tham gia góp hụi và đã nhận tiền hụi từ bà H như bà đã thừa nhận. Do đó, bà Hu nh Thị H khởi kiện yêu cầu bà Ng yêu cầu trả khoản tiền nợ hụi còn thiếu là 30.000.000 đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Mặc dù giao dịch góp hụi được xác lập giữa bà bà Hu nh Thị H bà Lý Kiều Ng. Song quan hệ giữa bà Ng, ông L là vợ chồng, việc tham gia góp hụi giữa bà H và bà Ng ông L biết và thừa nhận và thống nhất đồng ý. Do đó, căn cứ vào Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình ông Trần Văn L và bà lý Kiều Ng có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ nêu trên.
*Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Hu nh Thị H được chấp nhận toàn bộ nên phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Lý Kiều Ng và ông Trần Văn L phải chịu bằng 5% số tiền mà bà Ng và ông L có nghĩa vụ trả cho bà H: 30.000.000 đồng x 5% = 1500.000 đồng.
*Về quyền kháng cáo bản án: căn cứ vào các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429, 471, điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án; Điều 26 luật thi Hnh án dân sự.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hu nh Thị H. Buộc bà Lý Kiều Ng và ông Trần Văn L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Hu nh Thị H số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Kể từ ngày bà Hu nh Thị H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi ông Trần văn L và bà Lý Kiều Ng trả xong cho bà Hu nh Thị H toàn bộ số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), thì hàng tháng ông Trần Văn L và bà Lý Kiều Ng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn thiếu theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2.Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn L và bà Lý Kiều Ng phải liên đới chịu 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hu nh Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Hu nh Thị H số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0000437 ngày 05 tháng 02 năm 2018 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
3. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hôm nay thì thời G kháng cáo được tính từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Hôi thẩm nhân dân
Hội thẩm nhân dân
| Thạch Thanh Tâm Nguyễn Thanh Rực | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trung Hà |