vanban.org

Bản án 07/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Buộc bà Thái Thị Huyền Ch phải có trách nhiệm thanh toán tiền vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần N tính đến ngày 14/10/2017 là 65.040.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng). Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 15/10/2017 đối với khoản nợ gốc cho đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Kiện đòi nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/DS-ST
Ngày: 27/02/2018
Về việc: Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG-THÁP CHÀM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Anh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Huỳnh Phương Nam.

2/. Ông Trần Thanh Minh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc- cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.

Ngày 27 tháng 02 năm 2018 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2017/TLST- DS, ngày 24 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018/QĐXX – DS, ngày12 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2018/QĐHPT ngày 30/01/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Địa chỉ: 201 – 203 đường C, phường 4, Quận 3, TP. H.

(Quyết định ủy quyền số: 74A/ 2017/UQQT - NHNA, ngày 23/3/2017 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần N).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đạo Anh T – Trưởng phòng kinh doanh Chi nhánh Ninh Thuận (Văn bản ủy quyền số 32/2017/UQ-NHNA ngày 08/5/2017 và 33/2017/UQ-NHNA -06 ngày 08/5/2017) (Có mặt).

Địa chỉ: Số 594-596 đường Thống Nh, phường Đ, Thành phố.Ph, tỉnh Ninh Thuận.

* Bị đơn: Bà Thái Thị Huyền Ch, sinh năm: 1987

Địa chỉ: Khu phố 6, phường Ph, thành phố Ph, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 16/10/2017 và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N - ông Đạo Anh T trình bày:

Ngày 05/3/2015 bà Thái Thị Huyền Ch có lập hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng thương mại cổ phần N - chi nhánh Ninh Thuận với số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng chẵn) theo Hợp đồng tín dụng số: 0184/2015/414/HĐTD, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 05/3/2015, thời điểm trả hết nợ vào ngày 05/3/2020, kỳ hạn trả nợ hàng tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9,6%/năm, mục đích vay là tiêu dùng. Bà Thái Thị Huyền Ch đang còn nợ gốc 54.000.000 đồng và lãi phát sinh 11.040.000 đồng. Đây là khoản vay tín chấp được Ngân hàng thương mại cổ phần N – Chi nhánh Ninh Thuận liên kết với Trường THCS Đông H ký kết với Ngân hàng.

Từ khi vay cho đến tháng 10/2016, bà Thái Thị Huyền Ch chưa thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng, bà Ch chỉ mới trả tiền gốc 6.000.000 đồng, tiền lãi 2.882.950 đồng, Ngân hàng có nhắc nhở nhưng bà Ch vẫn không có thiện chí trả nợ; Bà Ch đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch phải hoàn trả tổng số nợ tính đến ngày 14/10/2017 là 65.040.000 đồng (trong đó: Nợ gốc: 54.000.000 đồng; Nợ lãi: 11.040.000 đồng).

Yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch phải tiếp tục thanh toán phần lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng ngày 15/10/2017 cho đến khi thi hành án xong.

* Bị đơn: Bà Thái Thị Huyền Ch dù đã được tống đạt giấy báo đến Tòa án TP. Phan Rang – Tháp Chàm để Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng bà Ch đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Tại phiên tòa, Ngân hàng thương mại cổ phần N yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch phải hoàn trả tổng số nợ tính đến ngày 14/10/2017 là 65.040.000 đồng (trong đó: Nợ gốc: 54.000.000 đồng; Nợ lãi: 11.040.000 đồng). Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án dân sự là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Thái Thị Huyền Ch đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Thái Thị Huyền Ch là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, nhận thấy: Ngày 05/3/2015 bà Thái Thị Huyền Ch có lập hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng thương mại cổ phần N - chi nhánh Ninh Thuận với số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng chẵn) theo Hợp đồng tín dụng số: 0184/2015/414/HĐTD, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 05/3/2015, thời điểm trả hết nợ vào ngày 05/3/2020, kỳ hạn trả nợ hàng tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9,6%/năm, mục đích vay là tiêu dùng. Xét thấy đây là sự thỏa thuận và tự nguyện giữa hai bên theo hợp đồng là đúng với quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án TP. Phan Rang – Tháp Chàm đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Thái Thị Huyền Ch theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà Thái Thị Huyền Ch vẫn không có ý kiến gì cũng như không đến Tòa án làm việc. Điều đó thể hiện bà Thái Thị Huyền Ch từ chối quyền và nghĩa vụ của mình và chứng tỏ rằng việc Ngân hàng thương mại cổ phần khởi kiện đòi nợ vay theo hợp đồng vay tài sản là có thật; Hơn nữa xét thấy toàn bộ hồ sơ Ngân hàng cung cấp thể hiện đều có chữ ký, chữ viết của bà Ch. Đồng thời cũng thể hiện trong quá trình vay vốn kể từ tháng 10/2016 đến nay bà Ch chưa thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần N cả gốc và lãi. Vì vậy xác định bà Ch còn nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần N tính đến ngày 14/10/2017 là 65.040.000 đồng (trong đó: Nợ gốc: 54.000.000 đồng; Nợ lãi: 11.040.000 đồng). Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch phải tiếp tục thanh toán phần lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 15/10/2017 cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí:

Bà Thái Thị Huyền Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.Ngân hàng thương mại cổ phần N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 điều 26, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Buộc bà Thái Thị Huyền Ch phải có trách nhiệm thanh toán tiền vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần N tính đến ngày 14/10/2017 là 65.040.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng).

Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 15/10/2017 đối với khoản nợ gốc cho đến khi thi hành xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng.

Về án phí:

Bà Thái Thị Huyền Ch phải chịu 3.252.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần N 2.040.000 đồng tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu số 0014356, ngày 24/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hợp lệ bản án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 06, 07 và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ