- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 07/2018/DS-ST Ngày: 22/3/2018 V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi, vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Châu Hùng;
2. Ông Trần Thanh Huy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đại Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2018/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970, nơi cư trú: Số 142, ấp Mỹ Chánh, xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Lý Thị H, sinh năm 1976, nơi cư trú: Số 427, tổ 12, khóm Vĩnh Chánh 2, phường Vĩnh Ngươn, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Vào năm 2015, bà L làm chủ hụi và bà Lý Thị H là hụi viên. Sau khi hốt hụi với số tiền 55.000.000 đồng, bà H không chầu hụi nên mang bộ ghế salon giao cho bà L để khấu trừ 30.000.000 đồng và còn nợ 25.000.000 đồng. Đến 11/2017, bà L cho bà H vay 7.132.000 đồng, mục đích để bà H làm thủ tục đáo hạn của Siêu thị Điện máy xanh và có tiền trả nợ hụi cho bà L. Tuy nhiên, do không được Siêu thị cho vay lại nên bà H không thực hiện trả nợ cho bà L theo thỏa thuận. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu bà H có trách nhiệm trả số nợ vay và hụi, tổng cộng 32.132.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình: Biên bản hòa giải cơ sở ngày 01/12/2017 tại khóm Vĩnh Chánh 2, phường Vĩnh Ngươn, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lý Thị H trình bày: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thừa nhận còn nợ tiền hụi, tiền vay 32.132.000 đồng. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn bị đơn xin trả dần mỗi tháng 200.000 đồng cho đến khi hết nợ. Tòa án đã mở phiên hòa giải do các đương sự không thống nhất phương thức thanh toán nên hòa giải không thành. * Tại phiên tòa,
- Ý kiến của các đương sự: Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ngoài ra, các đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp bổ sung.
- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: + Đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định. + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc giao kết hợp đồng dân sự về hụi và vay tài sản giữa bà Nguyễn Thị L và Trần Thị H được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Bà H không chầu hụi khi đến kỳ là vi phạm nghĩa vụ của hụi viên, đồng thời không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, bà L yêu cầu bà H có trách nhiệm trả số tiền 32.132.000 đồng một lần là có căn cứ. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy: Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Trần Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Vĩnh Ngươn, thành phố Châu Đốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Hợp đồng dân sự về hụi, vay tiền giữa bà Nguyễn Thị L, bà Lý Thị H được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Về khoản nợ hụi và nợ vay:
Bị đơn bà Lý Thị H thừa nhận có nợ của bà Nguyễn Thị L tiền hụi 25.000.000 đồng và tiền vay 7.132.000 đồng, tổng cộng 32.132.000 đồng. Xét, buộc bà H có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 32.132.000 đồng.
Về phương thức thanh toán bị đơn xin được trả dần mỗi tháng 200.000 đồng nhưng không được nguyên đơn chấp nhận. Do đó, phương thức thanh toán sẽ được tiếp tục xem xét ở giai đoạn thi hành án.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà H có trách nhiệm trả nợ 32.132.000 đồng nên phải chịu án phí là 1.606.600 đồng (32.132.000 đồng x 5%) như theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bà Nguyễn Thị L được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, 466, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Các Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
Buộc bà Lý Thị H có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 32.132.000 (ba mươi hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn) đồng, trong đó nợ tiền hụi là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng và tiền vay 7.132.000 (bảy triệu một trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lý Thị H phải chịu 1.606.600 đồng (một triệu sáu trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà L số tiền 803.000 (tám trăm lẻ ba nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0015036 ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát TPCĐ (2); - Tòa án tỉnh An Giang (1); - Thi hành án DS TPCĐ (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Ngọc Tiền |