vanban.org

Bản án 07/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Y L Êban và bà H’L Hwing.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H’Br Êban phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 22.000.000đ. ông Y L Êban và bà H’L Hwing không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền 11.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0000855 ngày 14/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Buôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn-H'L Hwing+ Y L Êban, bị đơn: H Br Êban"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Y L Êban và bà H’L Hwing.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TP.BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/DS-ST
Ngày 06/02/2018
“V/v: Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà H’Năm Bkrông

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng

2. Ông Nguyễn Lập Tiến

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Y Kam ÊNuôl–Cán bộ Tòa án Tp.

Buôn Ma Thuột

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma thuột tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cường –Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2018, tại Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2017/DSST ngày 17 tháng 7 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2017/QĐXX-DS ngày 28/12/2017 giữa các đương sự :

* Nguyên đơn: Bà H’L Hwing –Sinh năm 1974 và ông Y L Êban –Sinh năm 1969.

Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk –Có mặt

* Bị đơn: Bà H’Br Êban –Sinh năm 1982

Địa chỉ: Buôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.–Vắng mặt

*Người làm chứng: Ông Y N Hwing –Sinh năm 1972

Địa chỉ: Buôn Pl, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk –Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn – Bà H’L Hwing và ông Y L Êban trình bày:

Vào ngày 01 tháng 9 năm 2013 vợ chồng ông bà có cho bà H’Br Êban (tên thường gọi là Amí C) mượn số tiền 300.000.000đ, đến năm 2015 bà H’Br nói vợ chồng ông bà cho vay thêm 150.000.000đ, số tiền này bà H’Br vay không ghi giấy tờ nhưng có sự làm chứng của anh trai bà H’L là ông Y N Hwing. Đến năm 2016 bà H’Br hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả được nên vào ngày 31/5/2016 bà H’Br có viết cho vợ chồng ông bà một giấy vay với nội dung là có mượn của cậu số tiền 450.000.000đ, và cam kết đến ngày 17/6/2017 trả cho vợ chồng ông bà số tiền 300.000.000đ, số tiền còn lại đến mùa cà phê thì trả đủ. Mặc dù đã hứa như vậy nhưng đến cuối năm 2016 bà H’Br vẫn không trả được đồng nào. Bà H’Br tiếp tục hứa hẹn đến tháng 3 năm 2017 sẽ trả hết số nợ trên, tuy nhiên đến nay bà H’Br vẫn chưa trả được đồng nào mặc dù vợ chồng ông bà đã gọi điện nhắc nhở và đến đòi nợ nhiều lần. Vì vậy vợ chồng ông bà yêu cầu tòa án giải quyết buộc bà H’Brê phải trả cho gia đình ông tổng số tiền 450.000.000đ và không yêu cầu tính lãi suất.

2. Trong bản tự khai, bà H’Br Êban trình bày:

Vào ngày 01/9/2013 bà có vay của vợ chồng ông Y L Êban và bà H’L Hwing số tiền 300.000.000đ, đến năm 2015 (không nhớ rõ ngày tháng) bà có vay thêm số tiền 150.000.000đ. Sau khi nhận tiền, do hoàn cảnh khó khăn, bà không trả được số tiền trên cho vợ chồng ông Y L và bà H’L nên vào ngày 31/5/2016, bà có viết một giấy vay nợ cho ông Y L và bà H’L mượn số tiền 450.000.000đ và hứa đến ngày 17/6/2016 sẽ trả số tiền 300.000.000đ, số tiền còn lại hẹn đến mùa cà phê năm 2016 sẽ trả hết. Đến cuối năm bà vẫn không trả được nên hẹn đến tháng 3/2017 sẽ trả hết số nợ nói trên. Tuy nhiên do khó khăn trong việc làm ăn cộng với việc vợ chồng bà ly hôn nên không có khả năng trả nợ. Số nợ 450.000.000đ do là nợ bà vay riêng, không liên quan gì đến ông Y C Bkrông (là chồng cũ của bà H’Br). Việc vợ chồng ông Y L và bà H’L khởi kiện bà còn nợ số tiền 450.000.000đ là đúng, bà đề nghị vợ chông ông Y L và bà H’L cho bà một khoảng thời gian để sắp xếp trả nợ này vào cuối tháng 12 năm 2017.

3.Trong bản tự khai người làm chứng –ông Y N Hwing trình bày: Vào ngày 17/7/2015 ông cùng em gái và em rể là ông Y L và bà H’L có đưa cho bà H’Br tại nhà riêng là Buôn T, xã E, thành phố B số tiền 150.000.000đ, nội dung giao nhận giữa đôi bên thì ông không biết. Nay ông Y L và bà H’L khởi kiện bà H’Br việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản ông không có ý kiến gì, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu quan điểm về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án:

-Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử cũng như phía nguyên đơn, người làm chứng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Vụ án thụ lý vào ngày 17 tháng 7 năm 2017, nhưng đến ngày 28 tháng 12 năm 2017 Tòa án mới ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án: Xét chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp về cam kết vay nợ và trả nợ của hai bên thì xác định, việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn vay số tiền 450.000.000đ là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn –ông Y L Êban và bà H’L Hwing, buộc bà H’Br Êban phải trả cho ông Y L Êban và bà H’L Hwing số tiền 450.000.000đ và không tính lãi suất.

Về án phí: Buộc bà H’Br Êban phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. ông Y L Êban và bà H’L Hwing được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp pháp Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị đơn –bà H’Br Êban vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.

.Về nội dung khởi kiện: Vào ngày 31/5/2016 bà H’Br có viết cho vợ chồng ông Y L và bà H’L một giấy vay với nội dung là có mượn của cậu số tiền 450.000.000đ, cam kết đến ngày 17/6/2017 trả cho vợ chồng ông bà số tiền 300.000.000đ, số tiền còn lại đến mùa cà phê thì trả đủ, nhưng đến cuối năm 2016 bà H’Br tiếp tục hứa hẹn đến tháng 3 năm 2017 sẽ trả hết số nợ trên, tuy nhiên đến nay bà H’Br vẫn chưa trả được đồng nào mặc dù vợ chồng ông bà đã gọi điện nhắc nhở và đến đòi nợ nhiều lần. Vì vậy vợ chồng ông bà yêu cầu tòa án giải quyết buộc bà H’Br phải trả cho gia đình ông tổng số tiền 450.000.000đ và không yêu cầu tính lãi suất. Cùng với việc khởi kiện của mình ông Y L và bà H’L đã xuất trình chứng cứ là giấy vay tiền ngày 31/5/2016 và giấy khất nợ ngày 03/12/2016 có chữ ký của bà H’Br (Amí C).

Tại phiên tòa hôm nay, ông Y L và bà H’L vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và yêu cầu bà H’Brê trả ông bà số tiền 450.000.000đ và đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giả quyết vụ án, tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ nơi cư trú của Amí C và được chính quyền địa phương xác nhận, bà H’Br Êban còn có tên gọi khác là Amí C. Đồng thời bà H’Br cũng xác định việc bà vay của vợ chồng ông Y L và bà H’L số tiền 450.000.000đ là đúng.

Xét thấy việc vay mượn giữa vợ chồng ông Y L và bà H’Luen và bà H’Br được thực hiện thông qua giấy vay tiền có chữ ký xác nhận của người vay nợ với tổng số tiền là 450.000.000đ, bà H’Br cũng xác định việc bà vay của vợ chồng ông Y L và bà H’L số tiền 450.000.000đ là đúng. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Y L và bà H’L là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy HĐXX cần chấp nhận. Buộc bà H’Br phải trả cho vợ chông ông Y L và bà H’L số tiền 450.000.000đ.

Về lãi suất: Vợ chồng ông Y L và bà H’L không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền bà H’Br còn nợ mà chỉ yêu cầu tính lãi trong quá trình thi hành án, xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, cần chấp nhận.

Về án phí DSST: Do yêu cầu của ông Y L và bà H’L được chấp nhận nên bà H’Br phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của số tiền 450.000.000đ là 20.000.000đ +(4% x 50.000.000đ) = 22.000.000đ.

Ông Y L Êban và bà H’L Hwing không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 463, 466 Bộ luật dân sự;

Ápdụngnghịquyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016của UBTVQH về ánphí,lệphí Tòa án.

-Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Y L Êban và bà H’L Hwing. Buộc bà H’Br Êban phải trả cho ông Y L Êban và bà H’L Hwing số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm chục triệu đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án khi đương sự có đơn yêu cầu.

-Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H’Br Êban phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 22.000.000đ.

ông Y L Êban và bà H’L Hwing không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền 11.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0000855 ngày 14/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐăkLăk.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đươc bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. *Nơi nhận:

Cỡ chữ