vanban.org

Bản án 07/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Công ty tài chính TNHH một thành viên V đối với ông Nguyễn Văn S.

Tuyên xử: Buộc ông Nguyễn Văn S phải trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên V số tiền nợ 44.268.160 đồng (trong đó, nợ gốc là 28.111.516 đồng và tiền lãi tính đến ngày 19/9/2017 là 16.156.644 đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Công ty tài chính TNHH một thành viên V đối với ông Nguyễn Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2018/DS- ST
Ngày: 27- 4 - 2018
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Sơn

2. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Mai Sương - Thư ký tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.

Ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2017/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXX- ST ngày 12 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên V Địa chỉ: Số 9, đường B, phường D, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Trần K, theo Văn bản ủy quyền số 14/2017/UQ-QTRR.17 ngày 22/3/2017 của ông Lô Bằng G và Văn bản ủy quyền số 3881/UQTT-VH.18 ngày 06/4/2018 của ông Lê Hiền T- Có mặt. * Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S. Sinh năm: 1987. Trú tại: Tổ 120, phường H, quận N, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2017 cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Công ty tài chính TNHH một thành viên V trình bày:

Nguyên vào ngày 24/6/2015, ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng tín dụng số 20150623-142004-0008 với Công ty tài chính TNHH một thành viên V để vay số tiền 29.699.209 đồng, với lãi suất 3,75%tháng, mục đích để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 54.453.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 35 tháng; 34 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.538.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.161.000 đồng. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/8/2015.

Thực hiện hợp đồng, ông S đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và đã thanh toán cho Công ty tài chính TNHH một thành viên V được 04 lần với tổng số tiền 6.152.000 đồng (trong đó tiền gốc là 1.587.693 đồng và tiền lãi là 4.564.307 đồng). Kể từ ngày 29/4/2016 cho đến nay ông S không thanh toán cho Công ty tài chính TNHH một thành viên V bất cứ khoản nào, mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở ông S trả nợ nhưng ông S vẫn không trả số tiền còn lại.

Nay để bảo đảm quyền lợi cho Công ty tài chính TNHH một thành viên V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn S thanh lý hợp đồng và trả toàn bộ khoản nợ là 44.268.160 đồng (trong đó, nợ gốc là 28.111.516 đồng và tiền lãi Ngân hàng chỉ tính đến ngày 19/9/2017 là 16.156.644 đồng).

Bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông S trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng ông S vẫn vắng mặt nên tòa án không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên V nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 26; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn S vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông S đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]

Về nội dung vụ án: Do có nhu cầu tiêu dùng cá nhân, nên vào ngày 24/6/2015, ông Nguyễn Văn S có ký hợp đồng tín dụng số 20150623-142004-0008 với Công ty tài chính TNHH một thành viên V để vay số tiền 29.699.209 đồng, với lãi suất 3,75%tháng, mục đích để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 54.453.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 35 tháng; 34 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.538.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.161.000 đồng. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/8/2015.

Sau khi thực hiện hợp đồng Công ty tài chính TNHH một thành viên V đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu của ông S nhưng ông S vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà đã vi phạm các cam kết về kỳ hạn trả nợ cho Công ty.

Trong quá trình vay ông S đã trả được cho Công ty tài chính TNHH một thành viên V 04 lần với tổng số tiền 6.152.000 đồng (trong đó tiền gốc là 1.587.693 đồng và tiền lãi là 4.564.307 đồng).

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn S phải trả số tiền nợ 44.268.160 đồng (trong đó, nợ gốc là 28.111.516 đồng và tiền lãi Ngân hàng chỉ tính đến ngày 19/9/2017 là 16.156.644 đồng) và không yêu cầu tính tiền lãi phát sinh.

Xét thấy, việc ông S đã vi phạm cam kết trả nợ đối với Công ty tài chính TNHH một thành viên V nên đã gây thiệt hại cho Công ty. Vì vậy, việc Công ty tài chính TNHH một thành viên V yêu cầu ông S trả nợ là hoàn toàn chính đáng và phù hợp, xét cần chấp nhận.

Đối với lãi suất do các bên đương sự thỏa thuận là 3,75%tháng, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của bên vay và bên cho vay phù hợp với quy định tại Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN, ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận nên không đề cập đến. [3]

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 20150623-142004-0008 ngày 24/6/2015, căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo giá ngạch 5% của số tiền phải trả.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Công ty tài chính TNHH một thành viên V đối với ông Nguyễn Văn S.

Tuyên xử: Buộc ông Nguyễn Văn S phải trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên V số tiền nợ 44.268.160 đồng (trong đó, nợ gốc là 28.111.516 đồng và tiền lãi tính đến ngày 19/9/2017 là 16.156.644 đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.

Án phí dân sự sơ thẩm: 2.213.400 đồng, ông Nguyễn Văn S phải chịu.

Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.107.000 đồng theo biên lai thu số 0001661 ngày 24/11/2017, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ