- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cá o Nguyễn Trung K phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2017/HS-ST Ngày 17/11/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Thiên Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Há nh
Bà Lê Thị Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành-Thư ký TAND huyệ n Tiên Du
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia
phiên tòa: Ông Chu Đứ c Tuấ n - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2017/TLST-HS ngày 06/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2017/QĐXXST-HS ngày 03/11/2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung K, sinh năm 1997
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắ c Ninh
Nghề Nghiệp: Làm ruộng; Trình độ họ c vấ n: 06/12;
Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Minh Th, SN 1975 – thợ xây
Con bà Nguyễn Thị M, SN 1974 – làm ruộng.
Gia đình bị cáo có 02 anh em ruột. Bị cáo là con lớn.
Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiề n sự: Không
Nhân thân: Ngày 16/01/2013 bị Chủ tịch UBND huyện Tiên Du ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 06 tháng.
Bị tạm giam từ ngày 10/7/2017 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt.
* Ngườ i bị hạ i:
1/ Anh Vi Văn H, sinh năm 1990 (vắng mặ t)
HKTT: Xã T, huyệ n N, tỉnh Thanh Hóa
Chỗ ở hiệ n nay: Thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh
2/ Bà Lại Thị H1 – Sinh năm 1974(có mặ t)
Đị a chỉ : Thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh
*Ngườ i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
1/ Ông Nguyễn Minh Th, sinh năm 1975 (có mặ t)
2/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1974 (có mặ t)
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh
3/ Chị Lăng Thanh T, sinh năm 1989 (vắng mặ t)
Đị a chỉ : Thôn Đ, xã H, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ ngày 09/6/2017, Nguyễ n Trung K đã có hành vi gian dối là nhờ em gái Nguyễn Thị Ngọc L mượn của anh Vi Văn H chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 36N2-8520. Sau đó K mang đi cầm cố cho anh Đào Đức H3 được 5.000.000 đồng. Sau khi đượ c cơ quan điề u tra thông bá o n gày 08/8/2017, anh H đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy trên. Tại biên bản định giá tài sản ngày 10/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du kết luận chiế c xe má y củ a anh H trị giá 5.000.000 đồng.
Ngày 26/6/2017, lợi dụng sơ hở của gia đình bà Lại Thị H1 là bác họ ở cạnh nhà, K đã đột nhập vào trong nhà trộm cắp được 13.000.000 đồng. Ngày 01/7/2017 K tiếp tục đột nhập vào nhà bà H1 lấ y được 23.012.000 đồng. Tổng trị giá tài sản K đã lấ y nhà bà H1 là 36.012.000 đồng.
Cáo trạng số 103/CTr - VKS ngày 05/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điề u 139 Bộ luậ t hì nh sự và “ Trộ m cắ p tà i sả n ” quy đị nh tạ i khoản 1 Điều 138 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo K khai nhận: Sáng ngà y 09/6/2017 khi thấ y anh H đi làm về bằng chiếc xe máy nên bị cá o đã nả y sinh ý định chiếm đoạt . Bị cáo bảo em gái là L sang mượ n anh H chiế c xe má y nhưng không nó i mụ c đí ch chiế m đoạ t cho L biế t. Sau đó L mượ n đượ c chìa khóa xe máy , bị cáo liền điều khiển đến nhà anh H3 vay số tiền 5.000.000 đồng và tự để lại chiế c xe máy làm tin. Tiế p đó trong cá c ngà y 26/6/2017 và 01/7/2017 bị cáo lén lút đột nhập vào nhà b à H1 lấ y trong ví lầ n lượ t là 13.000.000 đồng và 23.012.000 đồng. Quá trình phạm tộ i bị cá o sử dụ ng 01 chiếc gậy tre dài hơn 1 mét. Số tiền có được bị cá o đã mua thẻ nạp tiền chơi điện tử và chi tiêu cá nhân hết.
Ngườ i bị hạ i anh H khai tạ i cơ quan điề u tra đ ã nhận lại chiếc xe máy nên không có yêu cầ u gì . Bà H2 trình bày tại phiên tòa yêu cầ u bị cáo bồ i thườ ng số tiề n 36.012.000 đồ ng và đề nghị xử lý nghiêm theo quy đị nh phá p luậ t.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Th, bà M, chị T trình bày: Bà M đã tự nguyệ n nộ p 400.000 đồ ng bị cáo đưa cho và ông Th tự nguyệ n trả anh H3 5.000.000 đồ ng. Do gia đì nh kinh tế khó khăn nên chưa bồ i thườ ng cho bà H1. Chị T yêu cầ u bị cá o hoàn trả 500.000 đồ ng
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tiên Du thực hành quyề n công tố tại phiên tòa, trong phầ n luận tội , sau khi phân tích nguyên nhân , tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự củ a bị c áo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cá o Nguyễn Trung K phạm các tộ i “Lừ a đả o chiế m đoạ t tà i sản” và “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 139; khoản 1 Điề u 138; Điề u 50, điểm p khoản 1 Điề u 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điề u 33 Bộ luậ t hì nh sự : Xử phạt bị cáo Nguyễ n Trung K từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Lừ a đả o chiếm đoạt tài sản” ; từ 20 tháng đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 29 tháng từ đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2017.
3. Về trá ch nhiệ m dân sự : Áp dụng điều 42 BLHS; điều 584; điều 585 và điều 589 BLDS: Buộ c bị cá o K phải bồi thường cho bà H1 số tiề n 35.600.000 đồ ng và hoàn trả cho chị T 500.000 đồ ng.
4. Vậ t chứ ng: Áp dụng cá c Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự , Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng hình sự: Trả lại bị cáo 01 chứ ng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trung K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO 7 nhưng cầ n tạ m giữ chiế c điệ n thoạ i để đả m bả o thi hà nh á n ; Tịch thu tiêu hủy 01 gậy tre , 01 ví giả da ; Trả lại bà H 1 412.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dâ n huyện Tiên Du thừa nhận có tội , không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 09/6/2017 bị cáo K nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đã nói dối để cháu Lan mượn xe má y Honda Wave BKS : 36N2-8520 trị giá 5.000.000 đồng của anh H, sau đó bị cáo K tự ý mang đi cầ m cố . Các ngày 26/6/2017, 01/7/2017 bị cáo lén lút đột nhập vào nhà bà H 1 lấ y đượ c 13.000.000 đồng và 23.012.000 đồng. Hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của anh Hiến đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiế m đoạ t tà i sả n” tộ i phạ m và hì nh phạ t đượ c quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 139 BLHS. Hành vi chiế m đoạ t tiề n củ a bà Hậ u đủ yế u tố cấ u thà nh tộ i “Trộ m cắ p tà i sản” tọi phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự . Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an, hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần á p dụ ng hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thự c hiệ n mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân bị cá o thì thấ y : Năm 2013 bị cáo bị áp dụng biện pháp x ử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tính đến nay không coi là tiền sự nhưng cầ n đá nh giá về nhân thân bị cá o khi lượ ng hì nh . Tuy nhiên tạ i cơ quan điề u tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo , ăn năn hố i cả i về hà nh vi phạ m tộ i củ a bả n thân . Bố đẻ bị cáo đã bồi thường cho anh Hạnh . Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoả n 1, khoản 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự . Trong thờ i gian ngắ n bị cá o 03 lầ n thự c hiệ n hà nh vi phạm tội, trong đó có 02 lầ n trộ m cắ p nên phả i chị u tình tiết tăng nặng phạm tội nhiề u lầ n quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hộ i đồ ng xé t xử thấ y cầ n thiế t phả i cách ly bị cáo K ra khỏ i xã hộ i mộ t thời gian mới có tác dụng giáo dục , cải tạo và phòng ngừa chung. Bị cáo K bị xét xử cùng một lần phạm nhiều tội nên cầ n tổ ng hợ p hì nh phạ t theo Điề u 50 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Về hì nh phạ t bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế của bị cáo nên Hội đồng xét xử không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n.
Về trá ch nhiệ m dân sự : Số tiề n 12.000 đồ ng thu hồ i đượ c và 400.000 đồ ng bà M tự nguyệ n giao nộ p có nguồ n gố c củ a bà H 1 nên cầ n trả lạ i . Đối với yêu cầ u bồ i thườ ng số tiề n cò n thiế u của bà H1 là hợp pháp nên Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n, buộ c bị cá o phả i bồ i thườ ng cho bà H 1 số tiề n là 35.600.000 đồ ng. Ngoài ra Hội đồ ng xé t xử chấ p n hậ n yêu cầ u củ a chị T và sự tự nguyện của bị cáo chấp nhận hoàn trả chị T 500.000 đồ ng. Đối với số tiền 5.000.000 đồ ng ông Th là bố đẻ bị cáo không yêu cầ u hoà n trả và chiếc ví nữ bằng vải mầu trắng bà H1 không yêu cầ u nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t giả i quyế t.
Về xử lý vậ t chứ ng : Xác định 01 chứ ng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trung K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO 7 không liên quan đế n hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo nhưng cầ n tạ m giữ chiế c điệ n thoạ i để đả m bả o thi hà nh á n. Đối với 01 gậy tre và 01 ví giả da không ai xin lạ i, giá trị sử dụng thấp nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y.
Liên quan trong vụ án có bà M là mẹ đẻ của bị cá o khi cầ m 400.000 đồ ng không biế t tà i sả n do phạ m tộ i mà có ; cháu L sang mượn chìa khóa xe máy của anh H nhưng cháu L không biết được mục đích chiế m đoạ t tà i sả n của bị cáo; anh Hạ nh khi cho vay tiề n nhậ n cầ m cố không biế t nguồ n gố c chiế c xe má y do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý đối với bà M, cháu L, anh H3 là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cá o Nguyễn Trung K phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 139; khoản 1 Điề u 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điề u 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điề u 41, Điề u 33, Điề u 50 Bộ luậ t hì nh sự ; Điều 76, Điề u 99, Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễ n Trung K 09 tháng tù về tội “Lừ a đả o chiếm đoạt tài sản”; 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2017.
Quyế t đị nh tạ m giam bị cá o Nguyễn Trung K 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án
3. Về trá ch nhiệ m dân sự : Áp dụng điều 42 BLHS; điều 584; điều 585 và điều 589 BLDS: Buộ c bị cá o K phải bồi thường cho bà H1 số tiề n 35.600.000 đồ ng và hoàn trả cho chị 500.000 đồ ng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thi hành xong.
4. Xử lý vật chứng:
- Trả lại bị cáo 01 chứ ng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trung K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO 7 mầu vàng có số IMEI 1 là 35543845009612 và số IMEI 2 là 355438450096220 nhưng cầ n tạ m giữ chiế c điệ n thoại để đảm bảo thi hành án;
- Trả bà Lại Thị H1 412.000 đồng tiề n Ngân hà ng nhà nướ c Việ t Nam.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gậy tre dài 1,14m, đường kính 03cm và 01 ví giả da mầu đen kiểu nữ, kích thước khi gập là (9 x 19)cm
5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.805.000 đồ ng tiề n á n phí dân sự sơ thẩ m.
6. Bị cáo, ngườ i bị hại, ngườ i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngườ i bị hạ i , ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan vắ ng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n tố ng đạ t á n.
Trường hợp bản án có hiệu lực được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thạch Thiên Hà |