vanban.org

Bản án 07/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T.

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Đào Văn N. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002823 ngày 19/6/2017 của Chi cụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hoàng Thị T khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Đào Văn N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN ĐỒN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 07/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 08/9/2017
V/v: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Văn Bé

2.Bà Hoàng Thị N Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Thủy-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 59/2017/TLST-HNGĐ ngày 19/6/2017, về việc “ Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2017/QĐXX-ST ngày 24/8/2017, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1977, có mặt.

Địa chỉ: Khu x, thị trấn C, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

2. Bị đơn: Anh Đào Văn N, sinh năm 1975, vắng mặt.

ĐKNKTT: Khu x, thị trấn C, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Chỗ ở hiện nay: Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2017 và trong quá trình giải quyết xét xử vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh N kết hôn ngày 06/6/1997 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh là tự nguyện. Sau khi kết hôn chị và anh N chung sống hạnh phúc đến năm 1999 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh N nghiện ma túy, bỏ bê công việc gia đình, để có ma túy sử dụng anh N đã tiêu tán hết tài sản trong gia đình. Chị T khuyên bảo và đưa anh N đi cai nghiện nhiều lần nhưng anh N không quyết tâm cai nghiện nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều hơn. Đến tháng 2 năm 2017, anh N tiếp tục đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Quảng Ninh. Đến nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa chị và anh N không hàn gắn được, chị không còn tình cảm với anh N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị T và anh N có một con chung: Đào Duy N - sinh năm 1998. Con Đào Duy N đã thành niên, sức khỏe tốt, có việc làm ổn định, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh N tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai tại hồ sơ về thời gian kết hôn và có xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, đến nay anh cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, chị T yêu cầu được ly hôn, anh đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con như chị T trình bày là đúng. Con chung của anh và chị T đã thành niên, sức khỏe tốt, có việc làm ổn định, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, vay nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Đào Văn N đề nghị tại bản tự khai vì điều kiện hiện nay của anh cai nghiện đi lại không thuận tiện, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về lập hồ sơ, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ, anh N đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử cho phép anh được vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T. Chị T được ly hôn anh Đào Văn N là phù hợp khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình. Con chung của anh N, chị T là Đào Duy N - sinh năm 1998, đã thành niên, sức khỏe tốt, có việc làm ổn định nên không giải quyết. Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn nhận định:

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Đào Văn N đăng ký kết hôn ngày 06/6/1997 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn là tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng chung sống tại khu 1, thị trấn C, huyện Vân Đồn, năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 1998, anh N, chị T xảy ra mâu thuẫn do anh N nghiện Ma túy, bỏ bê công việc gia đình, để có ma túy sử dụng anh N đã tiêu tán hết tài sản trong gia đình. Chị T khuyên bảo và đưa anh N đi cai nghiện nhiều lần nhưng anh N không quyết tâm cai nghiện nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều hơn. Đến tháng 02 năm 2017, anh N tiếp tục đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Quảng Ninh. Quá trình giải quyết vụ án, anh N thừa nhận anh và chị T có mâu thuẫn nhiều tuy đã cố gắng hàn gắn nhưng không khắc phục được. Đến nay vợ chồng không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N được ly hôn chị T. Anh N đề nghị vì điều kiện hiện nay của anh cai nghiện đi lại không thuận tiện, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Như vậy mâu thuẫn giữa chị T và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân đến nay không đạt được, yêu cầu của chị T và anh N đều đề nghị được ly hôn là có căn cứ, phù hợp khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh N có một con chung: Đào Duy N - sinh năm 1998. Con Đào Duy Nam đã thành niên, sức khỏe tốt, có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị T, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T.

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Đào Văn N.

Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002823 ngày 19/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 08/9/2017). Vắng mặt bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ