- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa chị Hà thị N và anh vi Văn H"
- Tòa quyết gì? Xử: Buộc anh Vi Văn H phải bồi thường cho chị Hà Thị N số tiền 1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2017/DS - ST Ngày: 28 - 6 - 2017. V/v: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Đóa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng
Bà Đỗ Thị Hằng
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An.
- Đại diện VKS nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2017, tại hội trường Tòa án huyện Quỳnh Lưu, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 55/2017/TLST - DS ngày 30/5/2017 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2017/QĐXX- ST ngày 13 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị N, sinh năm 1971. Có mặt
2. Bị đơn: Anh Vi Văn H, sinh năm 1970. Có mặt Cùng địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/5/2017, và các lời khai tại Tòa án cũng như quá trình tố tụng tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị N trình bày:
Vào khoảng 13 giờ ngày 08/4/2017 chị Hà Thị N có đi theo xe mô tô của anh Vi Văn H, vì nghi ngờ anh Vi Văn H đi cùng với người phụ nữ khác. Đến xóm 12/9 xã T sau khi phát hiện thấy anh H đi cùng với người phụ nữ khác thì chị N điều khiển xe mô tô vượt lên nhưng bị anh H dùng xe mô tô ép xe của chị N làm chị N ngã ra đường và bị thương ở chân.
Quá trình điều trị ngoại trú của chị N hết những chi phí sau: Tiền thuốc theo đơn kê ngày 08/4/2017 là 867.000đ, tiền thuốc theo đơn kê ngày 14/4/2017 với số tiền 1.127.000đ. Sau khi uống hết thuốc theo đơn của Trạm y tế chị N tự mua thuốc uống với số tiền như sau: đơn thuốc ngày 19/4/2017 số tiền 390.000đ, ngày 25/4/2017 với số tiền 220.000đ, ngày 05/5/2017 với số tiền 430.000đ, ngày 12/5/2017 với số tiền 750.000đ.
Nay chị N yêu cầu anh Vi Văn H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:
- Tiền thuốc điều thị là 3.784.000đ trừ đi số tiền anh H đã bồi thường 1.050.000đ còn 2.734.000đ.
- Tiền công lao động bị mất trong vòng 34 ngày tính từ ngày 08/4/2017. Mỗi ngày công lao động là 150.000đ. Thành tiền là 5.100.000đ.
Chị N không yêu cầu bồi thường khoản tiền gì thêm.
Tổng số tiền anh Vi Văn H phải bồi thường cho chị Ngọ là 7.830.000đ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/6/2017, và quá trình tố tụng tại phiên tòa. Bị đơn anh Vi Văn H trình bày:
Anh Vi Văn H thống nhất về nguyên nhân gây ra tổn hại về sức khỏe cho chị Hà Thị N như chị N trình bày ở trên là đúng. Lỗi gây ra tai nạn dẫn đến thương tích cho chị N là hoàn toàn anh H gây ra.
Sau khi gây tai nạn cho chị N anh H đã bồi thường tiền thuốc cho chị N số tiền 1.050.000đ.
Nay chị N yêu cầu anh H bồi thường tiền chi phí điều trị và tiền công thu nhập bị mất thì anh không nhất trí bồi thường vì trước đây chị N đã đốt hết quần áo của anh và tại UBND xã T chị N không yêu cầu tiền thu nhập bị mất.
Đại diện VKS phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Người tham gia tố tụng chấp hành đầy đủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Áp dụng các Điều 590, Điều 601 BLDS; Điều 147, Điều 482 BLTTDS. Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị N.
Đề nghị: Buộc anh Vi Văn H bồi thường chi phí hợp lý cho chị Hà Thị N các khoản: Tiền thuốc điều trị theo đơn của bác sỹ và một đơn thuốc bán lẻ ngày 19/4/2017.
Bồi thường công thu nhập bị mất kể từ ngày 08/4/2017 đến ngày 23/4/2017 (sau khi uống hết thuốc ngày 19/4/2017) là 16 ngày với mức thu nhập bình quân của hộ cận nghèo là 40.000 đồng/ngày = 640.000 đồng.
Về án phí: Anh Vi Văn H là cá nhân thuộc diện hộ cận nghèo do đó được miễn tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Qua lời khai của chị Hà Thị N, lời thừa nhận của anh Vi Văn H có căn cứ xác định ngày 08/4/2017 anh Vi Văn H đi xe mô tô gây ra thương tích ở chân cho chị Hà Thị N do va chạm giao thông. Chi Hà Thị N phải điều trị ngoại trú tại Trạm y tế xã T. Chị Hà Thị N yêu cầu anh Vi Văn H bồi thường thiệt hại sức khỏe là có căn cứ pháp luật.
. Chị N yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm gồm các khoản tiền thuốc điều trị 2.734.000đ trong đó bao gồm các hóa đơn bán lẻ thuốc các ngày 08/4/2017 số tiền 867.000đ, ngày 14/4/2017 số tiền 1.127.000đ , ngày 19/4/2017 số tiền 390.000đ, ngày 25/4/2017 với số tiền 220.000đ, ngày 05/5/2017 với số tiền 430.000đ, ngày 12/5/2017 với số tiền 750.000đ. Các đơn thuốc ngày 19/4/2017, ngày 25/4/2017, ngày 05/5/2017, ngày 12/5/2017 do chị N tự mua không theo đơn của bác sỹ. Bệnh án của chị Hà Thị N tại trạm y tế xã T sau khi hết điều trị bác sỹ cũng không kê đơn thêm loại thuốc nào tuy nhiên có yêu cầu không được vận động nhiều và rửa vết thương. Do đó chấp nhận cho chị N chi phí điều trị theo đơn thuốc ngày 08/4/2017 là 867.000đ, tiền thuốc theo đơn kê ngày 14/4/2017 với số tiền 1.127.000đ và tiền thuốc điều trị ngày 19/4/2017 là 390.000đ. Anh H đã bồi thường tiền thuốc cho chị N số tiền 1.050.000đ.
. Đối với yêu cầu tiền công lao động bị mất. Chị N là cá nhân thuộc hộ cận nghèo năm 2017. Thu nhập dưới 1.000.000đ/ tháng. Tính bình quân mỗi ngày chị N thu nhập 40.000đ/ngày. Do đó không có căn cứ chấp nhận cho yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất cho chị N mỗi ngày 150.000đ. Theo bệnh án ngoại trú chị N điều trị từ ngày 08/4/2017 đến ngày 14/4/2017. Sau khi hết điều trị bác sỹ yêu cầu không được vận động nhiều. Do đó sau ngày 14/4/2017 chị N cũng chưa lao động được. Có căn cứ chấp nhận cho chị N tiền công thu nhập bị mất từ ngày 08/4/2017 đến ngày 23/4/2017 (sau khi uống hết thuốc ngày 19/4/2017) là 16 ngày x 40.000đ = 640.000đ.
. Chị N không yêu cầu bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác do đó căn cứ vào điều 590 BLDS buộc anh Vi Văn H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho chị Hà Thị N số tiền chi phí cho việc cứu chữa là 867.000đ + 1.127.000đ + 390.000đ – 1.050.000đ = 1.334.000đ. Tổng số tiền anh Vi Văn H phải bồi thường cho chi Hà Thị N là 1.974.000đ.
. Về án phí: Anh Vi Văn H là cá nhân thuộc diện hộ cận nghèo do đó được miễn tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 590, Điều 601 BLDS; Điều 147, Điều 482 BLTTDS. Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử: Buộc anh Vi Văn H phải bồi thường cho chị Hà Thị N số tiền 1.974.000đ (Một triệu chín trăm bảy tư nghìn đồng) tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
- Về án phí: Anh Vi Văn H được miễn tiền án phí vì thuộc diện hộ cận nghèo.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKS ND huyện Q.Lưu - THADS - Lưu VP, HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Đóa |