vanban.org

Bản án 06A/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "chị A, anh Đ"
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN
HUYỆN!L!
TỈNH!BẮC!GIANG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:06A/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 21 - 01- 2022
V/v xác định cha cho con

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!LỤC!NGẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Đồng;

2. Bà Vũ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ca.

-"Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L"tham"gia"phiên"toà:""

Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng"01 năm"2022,"tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:"277/2021/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 11"năm 2021"về việc “ xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày"06 tháng 01"năm 2022 giữa các đương sự:

-"Nguyên"đơn: Chị Hoàng Thị A, sinh năm 1991 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

-"Bị"đơn: Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1994 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

-"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

Anh Mã Văn M, sinh năm 1991 “có đơn xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!

Tại"đơn"khởi"kiện"và"trong"quá"trình"xét"xử,"nguyên"đơn"chị"Hoàng"Thị"A" trình"bày:""

Năm 2011 chị và anh Mã Văn M kết hôn với nhau. Đến năm 2020 do không hợp nhau nên chị và anh M đã ly hôn tại Bản án số 03/2020/HNGĐ - ST ngày 17/8/2020 của Toà án nhân dân huyện Đgiải quyết. Trước khi ly hôn chị và anh M do có mâu thuẫn nên từ cuối năm 2018 vợ chồng đã ly thân nhau. Trong thời gian ly thân này chị có quan hệ tình cảm với anh Hà Văn Đ và sinh được cháu Hà Uy Vũ, sinh ngày 11/8/2019. Chị xác định cháu Vũ tuy sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh M nhưng không phải là con của anh M mà là con của anh Hà Văn Đ. Chị và anh Đ đã đăng ký kết hôn với nhau. Căn cứ vào kết quả giám định ADN số 1236H/2020 ngày 08/12/2020 của Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN (Công ty) đã kết luận: “HÀ VĂN ĐẠT CÓ"quan"hệ" huyết"thống"bố"-"con"với"Hà"Uy"Vũ,"độ"tin"cậy"99,9999%”."Nay chị đề nghị Toà án xác định cha cho con, anh Hà Văn Đ là cha đẻ của cháu Hà Uy Vũ của theo quy định pháp luật.

Bị"đơn"anh"Hà"Văn"Đ"trình"bày:""

Anh xác định lời trình bày trên của chị Hoàng Thị A là đúng. Căn cứ vào kết quả giám định ADN như trên, anh đồng ý yêu cầu khởi kiện chị A, đề nghị Toà án xác định cha cho con, anh là cha đẻ của cháu Hà Uy Vũ theo quy định pháp luật.

Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan"anh"Mã"Văn"M"trình"bày:""

Năm 2011 anh và chị Hoàng Thị A kết hôn với nhau. Đến năm 2020 do không hợp nhau nên anh và chị A đã ly hôn như lời trình bày trên của chị A. Trong thời anh gian ly thân này chị A có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác và sinh được cháu Hà Huy Vũ, sinh ngày 11/8/2019. Anh xác định cháu Vũ tuy sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa anh và chị A nhưng không phải là con của anh. Nay chị A làm đơn đề nghị Toà án xác định cha cho con, cháu Hà Huy Vũ là con của anh Hà Văn Đ anh không có ý kiến gì, đề nghị Toà án căn cứ các quy định pháp luật giải quyết vụ án.

Tại"công"văn"số"701.NOVAGEN.2022"CỦA"Công"ty"TNHH"Công"Nghệ"di" truyền"NoVaGen"ngày"01/01/2022"đã"cung"cấp"thông"tin:"Công ty xác định kết quả giám định ADN chị Hoàng Thị A cung cấp cho Toà án là do Công ty đã thu mẫu trực tiếp, chụp hình, tiến hành xét nghiệm AND theo đơn yêu cầu của anh Hà Văn Đ. Công ty đã ban hành kết quả xét nghiệm như trên và xác định “độ"tin" cậy"trên"99,9999%”."

Đại"diện" Viện"kiểm"sát" nhân" dân" huyện"L" tham"gia"phiên"tòa" xét" xử"sơ" thẩm,"phát"biểu"ý"kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký Toà án thực hiện theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên toà Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự đều chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vào các khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88; 89; 91; 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị A:!Xác định anh Hà Văn Đ là cha đẻ của cháu Hà Uy Vũ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kiến nghị UBND cấp xã nơi các đương sự cư trú để xem xét xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình của chị Hoàng Thị A và anh Hà Văn Đ. Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Mã Văn M vắng mặt có lý do theo đúng quy định, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh M.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Các đương sự trong vụ án đều có lời khai thống nhất, xác định: chị Hoàng Thị A trong thời kỳ hôn nhân với anh Mã Văn M, chị A có quan hệ tình cảm với anh Hà Văn Đ và sinh được cháu Hà Uy Vũ, sinh ngày 11/8/2019. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN số 1236H/2020 ngày 08/12/2020 của Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN (Công ty) đã kết luận: “HÀ VĂN ĐẠT CÓ"quan"hệ"huyết"thống"bố" –"con"với"Hà"Uy"Vũ,"độ"tin"cậy"99,9999%”."Do vậy có đủ căn cứ xác định cháu Hà Uy Vũ là con của anh Hà Văn Đ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị A theo quy định tại Điều 88; 89; 91; 101; khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kiến nghị đối với UBND cấp xã nơi cư trú của chị Hoàng Thị A và anh Hà Văn Đ về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, tuy nhiên theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thời hiệu xử lý vi phạm đã hết nên Hội đồng xét xử không kiến nghị nội dung này trong bản án.

[3]"Về án phí: Vụ án này được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Do vậy các đương sự trong vụ án không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4]"Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên:""

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ vào các khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88; 89; 91; 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử:

1.!Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị A:!Xác định anh Hà Văn Đ là cha đẻ của cháu Hà Uy Vũ, sinh ngày 11/8/2019..

2.!Về!án!phí: Miễn án phí cho chị Hoàng Thị A.

Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống Đ hợp lệ bản án.

Cỡ chữ