vanban.org

Bản án 06A/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 21/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thị Lâm H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Thị Lâm H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 26-10-2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Lâm H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thị Lâm H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06A/2019/HS-ST
Ngày: 21-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Cải.

Bà Nguyễn Thị Kim Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ tên: Phan Thị Lâm H (tên gọi khác: Phan Thị Lâm H1) - sinh năm 1973 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 672 đường P, phường M, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn B (đã chết) và bà Lâm Thị N; có chồng Trần Thế T (đã ly hôn) và 03 con; tiền án: Ngày 24-3-2009 bị Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18-5-1999 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cáo tại thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ xét xử phúc thẩm, y án sơ thẩm xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26-10-2018, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 01-11-2018 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ A - sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 214 đường M, phường V, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; chị Mỹ A vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 25-10-2018, Phan Thị Lâm H điều khiển xe máy BKS: 18H2-3918 đến quán Mỹ A Nail tại địa chỉ số 307 đường V, phường B, thành phố Đ của chị Nguyễn Thị Mỹ A chơi. Tại đây, H gặp và vay của chị Nguyễn Thị Phi N1 – sinh năm 1980, trú tại: Số A2P7 quân khu A, đường D, phường T, thành phố Đ (là chị gái của chị Mỹ A) số tiền 1.000.000 đồng. Quá trình ngồi nói chuyện tại ghế sofa cạnh chị N1, H phát hiện chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus của chị Nguyễn Thị Mỹ A để trên ghế ngay cạnh phía bên phải chỗ H ngồi. Lợi dụng sơ hở lúc mọi người trong cửa hàng không để ý, H đã lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào túi xách màu đen của mình rồi nhanh chóng ra về. H điều khiển xe máy BKS: 18H2-3918 đi đến một ngõ nhỏ trên đường N rồi dừng lại và bỏ chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào cốp xe rồi tiếp tục đi xe máy đến quán nước nhà bà Vũ Thị Đ1 – sinh năm 1953 tại số 45 đường N, phường N, thành phố Đ và gửi xe máy ở đó.

Sau khi phát hiện bị mất điện thoại, chị Mỹ A đã kiểm tra camera tại cửa hàng và phát hiện H đã lấy trộm điện thoại của mình nên đã gọi điện cho Hà. H từ quán nước của bà Đ1 bắt xe ôm quay trở lại đường V gặp chị Mỹ A, chị Đào Thanh H – sinh năm 1971, trú tại: Số 46 đường P, phường T, thành phố Đ và một số người khác. Tại đây, H không thừa nhận là mình đã trộm cắp chiếc điện thoại và gửi chìa khóa xe máy BKS: 18H2-3918 cho chị Đào Thanh H và nhờ chị H đến lấy chiếc xe máy trên trả cho chị Tô Thanh T – sinh năm 1991, trú tại: Số D14P4 tập thể M, phường M, thành phố Đ – là người đã cho H mượn xe máy. Sau đó, chị Mỹ A đã trình báo sự việc với Công an phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định.

Quá trình điều tra, cơ quan công an đã triệu tập Phan Thị Lâm H làm việc. Tại cơ quan công an, H đã khai nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của chị Mỹ A. Chị Tô Thanh T tự nguyện mang chiếc xe máy BKS: 18H2-3918 lên trụ sở công an thành phố Nam Định. Công an thành phố Nam Định đã kiểm tra, thu giữ trong cốp xe máy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI 1:356770083512382. Ngày 26-10-2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phan Thị Lâm H.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nam Định đã tiến hành định giá và kết luận: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI 1:356770083512382) có trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị Nguyễn Thị Mỹ A. Chị Mỹ A đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Đối với Đào Thanh H và Tô Thanh T khi bảo quản và sử dụng chiếc xe máy BKS: 18H2-3918 đều không biết trong cốp xe có để chiếc điện thoại là vật chứng của vụ án nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định không đặt ra vấn đề xử lý.

Bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 04-01-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Phan Thị Lâm H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Phan Thị Lâm H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thị Lâm H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Phan Thị Lâm H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Bị cáo Phan Thị Lâm H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Lâm H, bị hại chị Nguyễn Thị Mỹ A không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thị Lâm H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 25-10-2018, Phan Thị Lâm H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Mỹ A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus có trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) tại quán Mỹ Anh Nail tại địa chỉ số 307 đường V, phường B, thành phố Đ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có trị giá 15.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phan Thị Lâm H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Xét bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã 2 lần bị đưa ra xét xử cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử sẽ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại bị hại, chị Nguyễn Thị Mỹ A đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo Phan Thị Lâm H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Thị Lâm H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phan Thị Lâm H 12 (mười hai) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 26-10-2018.

2. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Bị cáo Phan Thị Lâm H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Phan Thị Lâm H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Nguyễn Thị Mỹ A được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ