- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H đối với Công ty TNHH K về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo…"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91; Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235; Điều 238; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bảnánsố:06/2023/LĐ -ST Ngày: 27 tháng 6 năm 2023 V/v: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Bá Diễn;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Minh Châu – Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
2. Bà Phan Thị Thu Thảo - Phó Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2023/TLST-LĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-LĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2023/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1968
Địa chỉ: số 179/92, tổ 42, khu phố 9, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Công ty TNHH K
Địa chỉ trụ sở: Cụm công nghiệp T, ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Leung Tony Sai K - Chủ tịch hội đồng thành viên và bà Bùi Thị N - Tổng giám đốc.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số 219, đường H, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Minh T - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Phương H - Phó Chánh Văn phòng, (theo văn bản ủy quyền ngày 07/3/2023).
(Tất cả các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Vũ Thị H trình bày:
Bà được tuyển dụng vào làm việc cho Công ty TNHH K từ ngày 22/7/2020. Bà vào Công ty thử việc 01 tháng và sau đó, Công ty ký hợp đồng lao thời vụ với bà từ ngày 22/8/2020 đến ngày 21/8/2021. Bà không tham gia đóng các loại bảo hiểm trong thời gian hợp đồng thời vụ này. Đến ngày 22/8/2021, Công ty ký kết với bà hợp đồng lao động có xác định thời hạn là 12 tháng (từ ngày 22/8/2021 đến ngày 21/8/2022). Nhưng đến tháng 10/2021, bà mới được công ty cho tham gia đóng các loại bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Sau khi hết hạn hợp đồng lao động có xác định thời hạn 12 tháng này, bà vẫn tiếp tục làm việc cho công ty. Công việc của bà là công nhân tạp vụ mức lương cơ bản trước khi nghỉ việc là 5.000.000 đồng/tháng.
Trong quá trình làm việc, bà luôn hoàn thành tốt công việc được giao. Hàng tháng, công ty vẫn trừ lương của bà để nộp tiền bảo hiểm xã hội theo quy định. Ngày 30/11/2022, bà viết đơn xin nghỉ việc và công ty cho bà nghỉ việc từ ngày này. Nhưng khi đi làm thủ tục để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì bà được biết Công ty còn nợ, chưa đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2022. Bà đã yêu cầu công ty phải đóng khoản nợ bảo hiểm xã hội này để bà được chốt sổ bảo hiểm xã hội theo quy định nhưng công ty không thực hiện.
Do vậy bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH K phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 10/2022 đến hết tháng 11/2022 và thực hiện việc xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà để bà đủ điều kiện được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
* Bị đơn là Công ty TNHH K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản theo trình tự tố tụng nhưng không tham gia tố tụng và không cung cấp văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án:
* Người có quyền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai do bà Đinh Thị Phương H có văn bản trình bày:
Bà Vũ Thị H, sinh ngày 01/02/1968, mã số BHXH 4705070036 có quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH K từ tháng 10/2021, Công ty TNHH K đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà H đến tháng 9/2022, chưa đóng bảo hiểm xã hội cho bà H từ tháng 10/2022 đến tháng 11/2022.
* Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều: 239, 243, 248, 249, 250, 251, 253, 254, 256, 260 và Điều 263 của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình tại các Điều 70, 71, 72, 86, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được thông báo, triệu tập nhiều lần nên việc Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn để giải quyết dứt điểm vụ án là phù hợp.
Về nội dung tranh chấp: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn và buộc bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ vào quan hệ lao động và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội”.
Bị đơn là Công ty TNHH K có trụ sở chính tại Cụm công nghiệp T, ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự theo quy định tại sự khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do tất cả các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự thì quyền kháng cáo của các đương sự được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về nội dung tranh chấp:
Công ty TNHH K là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo cụ thể yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo cũng như các tài liệu, chứng cứ khác mà Tòa án đã thu thập được. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn không tham gia giải quyết vụ án, cũng không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
3.2 Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Theo trình bày của bà H thì bà H có quá trình làm việc tại Công ty TNHH K từ ngày 22/7/2020 đến ngày 30/11/2022. Công ty với bà H có ký kết hợp đồng lao động và công việc của bà Hắng là công nhân tạp vụ với mức lương cơ bản trước khi nghỉ việc là 5.000.000 đồng/tháng. Hợp đồng lao động giữa công ty và bà H chấm dứt từ ngày 30/11/2022. Những nội dung này đã được thông báo cho công ty nhưng công ty không có ý kiến phản đối. Đồng thời trình bày của bà H phù hợp với ý kiến của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai. Như vậy giữa bà H và công ty có quan hệ lao động và công ty phải có nghĩa vụ đóng tiền gia bảo hiểm xã hội và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội.
Theo thông tin do Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng cung cấp thì bà H có mã số BHXH là 4705070036 và có quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH K từ tháng 10/2021. Công ty TNHH K đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà H đến tháng 9/2022, chưa đóng bảo hiểm xã hội cho bà H từ tháng 10/2022 đến tháng 11/2022. Như vậy việc bà H yêu cầu công ty phải đóng bảo hiểm xã hội cho bà H từ tháng 10 đến tháng 11/2022 và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà H là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Lao động nên yêu cầu khởi kiện của bà H là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí lao động sơ thẩm: Yêu cầu của bà H được chấp nhận nên Công ty TNHH K phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91; Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235; Điều 238; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 3 Điều 47; Điều 186 của Bộ luật Lao động;
- Điều 18; khoản 1 Điều 19; khoản 2 và khoản 5 Điều 21 của Luật Bảo hiểm xã hội;
- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H đối với Công ty TNHH K về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội”.
1.1 Buộc Công ty TNHH K phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà Vũ Thị H tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai từ tháng 10/2022 đến hết tháng 11/2022. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
1.2 Buộc Công ty TNHH K thực hiện xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà Vũ Thị H theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH K phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - Chi cục THA dân sự huyệnVĩnh Cửu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Bá Diễn |