- Tranh chấp gì? "Tràng Kim Chun cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo K’Br, và Tràng Kim Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TßA ¸N NH©N D©N HUYỆN D tØnh l©m ®ång | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ B¶n ¸n sè: 06/2023/HSST Ngµy : 09/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng.
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông: Nguyễn Xuân Hinh;
2/. Bà: Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2023. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2022/HSST ngày 16 tháng 12 năm 2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐ-HSST ngày 19 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/Họ và tên: K’Br (tên gọi khác: K’Brói). Sinh ngày 29 tháng 12 năm 1998, nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn 5A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kơ Ho; tôn giáo: Tin lành; trình độ học vấn: 02/12. Con ông: K’BRỐS, sinh năm 1964, con bà: Ka Nhềs, sinh năm 1973. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Ngày 24/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 53/2020/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/3/2021 theo giấy chứng nhận số 240/GCN. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
2/Họ và tên: Tràng Kim Ch. Sinh ngày 23 tháng 10 năm 2003, nơi sinh: Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn 5B, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kơ Ho; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 07/12. Con ông: K’Châu, sinh năm 1983, con bà: Ka Hồng, sinh năm 1983. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Họ và tên: Trần Văn Ph, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Thôn 5A, xã Đ, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Đức B, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Thôn 8, xã Đ, Di Linh, Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Ka Nh, sinh năm
1985. Nơi cư trú: Thôn 2A, xã Đ, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
K’Br và Tràng Kim Ch đều là những người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 10/9/2022 K’Br và Tràng Kim Ch và tối ngày 22/9/20222 K’Br nảy sinh ý định đi trộm cắp để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 10/9/2022, K’Br rủ Tràng Kim Ch đi trộm cắp tài sản thì Chun đồng ý. Sau đó K’Br điều khiển xe mô tô biển số 49N -92350 là xe của ông K’Brốs bố ruột của K’Br và Ch điều khiển xe mô tô biển số 49G1-367-48 là xe của bà Ka Hồnh là mẹ của Ch đi đến chòi của anh Trần Văn Ph tại thôn 5A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến nơi cả hai quan sát thấy chòi không có người trông coi, K’Br đi vào trong để tìm kiếm tài sản trộm cắp, còn Ch đứng bên ngoài cách đó khoảng 10m để cảnh giới. Sau khi quan sát, K’Br phát hiện bên trong chòi có 01 loa kéo màu đen, nhãn hiệu TNT model T8, cùng với 01 micro nên đã bê ra để lên xe chở đi.
Sau khi chiếm đoạt được tài sản thì Tràng Kim Ch ra về, còn K’ Br thì chở loa kéo đi tìm nơi tiêu thụ nhưng không có ai mua nên K’Brỉu chở đến nhà bà Ka Nh (là cô của K’ Br), sinh năm: 1985, địa chỉ: Thôn 2A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để cất giấu và nói đây là tài sản của mình.
Đến ngày 04/10/2022, anh Trần Văn Ph đến Công an xã Đ để trình báo về việc bị mất trộm tài sản vào ngày 10/9/2022. Công an xã Đ đã tiến hành tiếp nhận nguồn tin và xác minh ban đầu. Qua quá trình xác minh phát hiện tại nhà bà Ka Phíp có 01 loa kéo màu đen, nhãn hiệu TNT model T8, cùng với 01 micro do đối tượng K’ Br cất giấu. Cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với K’ Br, tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân.
Vụ thứ hai:
Vào tối ngày 19/9/2022, một mình K’ Br đi tìm kiếm tài sản trộm cắp, khi đi đến khu vực đất trống bên cạnh cửa hàng bán phân “Liên Nụ” thuộc: Thôn Nam Trang, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thấy xe mô tô biển số: 49P2-4434 của anh Nguyễn Đức B để ở đó, không có người trông coi nhưng K’ Br chưa lấy ngay mà đi về. Đến khoảng 20 giờ ngày 22/9/2022, K’ Br đi bộ đến khu vực cạnh cửa hàng bán phân “Liên Nụ” quan sát xung quanh thấy không có người nên đã đi bộ đến vị trí chiếc xe mô tô biển số: 49P2-4434 nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, rồi dùng 01 con dao thái lan cán màu vàng đã chuẩn bị sẵn để mở khoá xe rồi dắt xe ra đường, K’Br khởi động xe và chạy đến vườn của gia đình mình thuộc: Thôn 9, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cất giấu. Khi vào đến vườn thì K’ Briu cất giấu chiếc xe trộm cắp được tại đây và vứt bỏ luôn con dao thái lan đã sử dụng.
Tại kết luận định giá tài sản số 729/KL-HĐĐG ngày 07/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận:
+ 01 xe mô tô Biển kiểm soát 49P2-4434, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc đăng ký lần đầu ngày 25/12/2008 trị giá 4.350.000 đồng
+ 01 loa kẹo kéo màu đen nhãn hiệu TNT Model T8, kèm 01 micro loại (Wireless phone UHF proesionai) trị giá 2.870.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 7.220.000đồng.
Tại Cáo trạng số: 04/CT - VKS - DL ngày 16/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Lâm Đồng truy tố các bị cáo K’Br và Tràng Kim Ch, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo K’Br và Tràng Kim Ch khai nhận vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 10/9/2022 tại khu vực thôn 5A, xã Đ, huyện Di Linh, Lâm Đồng bị cáo K’Br cùng với Tràng Kim Ch đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 loa kẹo kéo màu đen nhãn hiệu TNT Model T8, kèm 01 micro loại (Wireless phone UHF proesionai) của bị hại anh Trần Văn Ph trị giá 2.870.000 đồng. Ngoài ra khoảng 20 giờ ngày 22/9/2022 tại Thôn Nam Trang, xã Đ, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng một mình bị cáo K’Brỉu đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô Biển kiểm soát 49P2-4434, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc đăng ký lần đầu ngày 25/12/2008 của bị hại anh Nguyễn Đức B trị giá 4.350.000 đồng mục đích trộm cắp để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân các bị cáo thừa nhận đã thực hiện các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng và không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau:
Tại phiên tòa các bị cáo K’Br và Tràng Kim Ch đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai của người bị hại, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của các bị cáo K’Br và Tràng Kim Ch thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 loa kẹo kéo màu đen nhãn hiệu TNT Model T8, kèm 01 micro loại (Wireless phone UHF proesionai) của bị hại anh Trần Văn Phương trị giá 2.870.000 đồng; hành vi của các bị cáo K’Br thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô Biển kiểm soát 49P2-4434, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc đăng ký lần đầu ngày 25/12/2008 của bị hại anh Nguyễn Đức B trị giá 4.350.000 đồng, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
Tuyên bố các bị cáo K’Br và Tràng Kim Ch phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g, h khoản 1 điều 52; điều 17, điều 50, điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015, để xử phạt bị cáo K’Br từ 18 đến 24 tháng tù.
Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 17; điều 50; điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tràng Kim Ch từ 06 đến 09 tháng tù.
Phần bồi thường: Bị hại anh Trần Văn Ph và anh Nguyễn Đức B đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Đã xử lý trả lại cho các bị hại và người liên quan nên không đề cập.
Các bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo K’Br, và Tràng Kim Ch: Các bị cáo K’Br, và Tràng Kim Ch đều là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, các bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng người bị hại mất cảnh giác và chủ quan trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, các bị cáo đã lén lút để chiếm đoạt tài sản là: 01 loa kẹo kéo màu đen nhãn hiệu TNT Model T8, kèm 01 micro loại (Wireless phone UHF proesionai) của bị hại anh Trần Văn Phương trị giá 2.870.000 đồng. Riêng bị cáo K’Brỉu còn thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô Biển kiểm soát 49P2-4434, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc đăng ký lần đầu ngày 25/12/2008 của bị hại anh Nguyễn Đức B trị giá 4.350.000 đồng với mục đích để bán lấy tiền sử dụng cho nhu cầu cá nhân và sử dụng ma túy, trong khi bị cáo K’Br có 01 tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích là hành vi trái pháp luật, xâm hại trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận các bị cáo K’Br, và Tràng Kim Ch đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm đối với các bị cáo được qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố và Kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
.Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo K’Br, và Tràng Kim Ch không có bàn bạc thỏa thuận từ trước, không có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng và không có sự câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm mang tính chất giản đơn. Trong vụ án này bị cáo K’Br là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Tràng Kim Ch cùng thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.
.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Riêng bị cáo Tràng Kim Ch phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 điều 51 – Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo K’Br trong khoảng thời gian ngắn liên tục thực hiện hai lần trộm cắp tài sản mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, bị cáo phạm tội trong khi có một tiền án về tội phạm cùng loại nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần và tái phạm theo quy định tại điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, đều sử dụng trái phép chất ma túy nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo, phòng ngừa chung và cũng là để các bị cáo có thời gian cách ly với chất ma túy.
.Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo trong bản án này.
.Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra thu giữ được các vật chứng cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Di Linh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu nên không xem xét giải quyết tiếp.
.Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố các bị cáo K’Br, và Tràng Kim Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015; điều 17, điều 50; điều 38, xử phạt bị cáo: K’Br 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2022.
[3]. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 17; điều 50; điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tràng Kim Ch 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
[4]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo K’Br, và Tràng Kim Ch mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng; - Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện D; - Công an huyện D; - Thi hành án huyện D; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận theo dõi THA phạt tù; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Đồng |