- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức Tuấn “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ k…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HS-ST Ngày: 22-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Lệ Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Lê Văn Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nữ Giang Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Nhà văn hóa tổ dân phố D, phường T, tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2025/TLST-HS ngày 12/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Đức T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 03 tháng 02 năm 2000 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: TDP B, phường T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tham gia Đảng, đoàn thể: không; con ông: Bùi Đức B, sinh năm: 1974 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1977; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 18/11/2019, Bản án số 91/2019/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; ngày 28/5/2021, Bùi Đức T chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích.
- Ngày 28/8/2025, Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lịch vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hình thức phạt tiền 6.500.000 đồng. Ngày 29/8/2025, đã chấp hành xong việc nộp phạt;
Bị khởi tố bị can ngày 10/11/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2025 cho đến nay tại Phường T, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt).
- Nguyên đơn dân sự : Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1988; địa chỉ: TDP K, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0333769679); (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1977; địa chỉ: TDP B, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0862287175); (có mặt)
2. Anh Nguyễn Chính Q, sinh năm: 1993; địa chỉ: TDP T, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0814699779); (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Lê Văn H, sinh năm: 1993; địa chỉ: TDP B, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0949622668); (có mặt)
2. Anh Hồ Viết H1, sinh năm: 1987; địa chỉ: TDP B, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0896680090); (có mặt)
3. Anh Trần Viết M, sinh năm: 1992; địa chỉ: TDP B, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0906581447-0782564933); (có mặt)
4. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1989; địa chỉ: TDP B, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0972293356); (có mặt)
5. Anh Nguyễn Đình T3, sinh năm: 1992; địa chỉ: TDP B, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0942866538). (có mặt)
6. Anh Trương Thế A, sinh năm: 1992; địa chỉ: TDP T, phường T (phường T cũ), tỉnh Hà Tĩnh (0948352123) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 25/5/2025, tại quán thịt chó Cầu Đ thuộc tổ dân phố K, phường T, tỉnh Hà Tĩnh, nhóm thợ sơn gồm có: Bùi Đức T (sinh năm 2000), Lê Văn H (sinh năm 1993), Hồ Viết H1 (sinh năm 1987), Trần Viết M (sinh năm 1992), Nguyễn Văn L (sinh năm 1989), Nguyễn Đình T3 (sinh năm 1992) đều trú tại tổ dân phố B, phường T, tỉnh Hà Tĩnh; Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1988) trú tại tổ dân phố K, phường T, tỉnh Hà Tĩnh và Nguyễn Chính Q (sinh năm 1993), Trương Thế A (sinh năm 1992) đều trú tại tổ dân phố T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh cùng nhau uống rượu. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Trương Thế A, Nguyễn Đình T3 và Nguyễn Văn L đi về trước, những người còn lại cùng nhau đi đến nhà anh Nguyễn Văn T2 tại số nhà A, ngõ I, đường Đ, TDP K, phường T để tiếp tục uống bia và hát karaoke. Khi đến nhà anh Nguyễn Văn T2 thì có Lê Trọng L1 (trú tại TDP K, phường T) tham gia cùng. Trong lúc uống bia, giữa Bùi Đức T và anh Nguyễn Chính Q xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, anh Q nói với T “Mi làm được thì làm, không làm được thì nghỉ” (ý là anh Q không hài lòng với thái độ làm việc của Bùi Đức T) đồng thời anh Q cầm cốc bia thủy tinh trên tay phải ném về phía Bùi Đức T đang ngồi nhưng không trúng vào ai. Tiếp đó, Bùi Đức T và anh Nguyễn C Q lao vào vật nhau ngã giữa sân nhà anh T2, được mọi người can ngăn nên T đi về, trước khi về Bùi Đức T nói với anh Nguyễn Chính Q “Mi đứng đó chờ tau”, anh Q không nói gì mà tiếp tục ở lại nhà anh Nguyễn Văn T2 để cùng mọi người dọn dẹp.
Do bực tức vì xảy ra mâu thuẫn với anh Nguyễn Chính Q nên Bùi Đức T đi bộ về nhà (ở T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh) lấy 02 con dao, trong đó có một con dao bầu và một con dao Thái Lan rồi quay trở lại nhà anh Nguyễn Văn T2. Khi đi đến trước cổng nhà anh Nguyễn Văn T2 thì Bùi Đức T hét to “Bay ngon thì ra đây”, anh Nguyễn T2 thấy vậy nên nói lại với Bùi Đức T “Mi cầm dao xuống nhà tau mần chi, mi về đi”, sau đó anh Nguyễn Văn T2 đi vào góc sân nhà lấy một cây gậy gỗ để dọa không cho Bùi Đức T vào nhà. Lúc này, Bùi Đức T vẫn tiếp tục đi vào sân nhà anh Nguyễn Văn T2, thấy T bước vào, anh T2 dùng tay phải cầm gậy gỗ đánh về phía T một phát theo hướng từ phải qua trái, Bùi Đức T đưa tay đỡ nên bị anh T2 đánh trúng vào bắp tay của cánh tay trái. Sau đó, Bùi Đức T dùng tay phải đang cầm con dao bầu chém về phía anh Nguyễn Văn T2 theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, anh T2 đưa hai tay ra phía trước để đỡ thì bị Bùi Đức T chém trúng cẳng tay phải, anh T2 lùi ra sau thì tiếp tục bị Bùi Đức T dùng dao đang cầm ở tay phải chém trúng khuỷu cánh tay trái. Sau đó, thấy anh Nguyễn Văn T2 bị chảy máu nhiều thì Bùi Đức T dừng lại không chém nữa, lúc này anh Nguyễn Chính Q lấy một con dao trong nhà bếp của anh Nguyễn Văn T2 chạy đến chỗ Bùi Đức T nói “Mi giỏi thì chém tau đi, mi mà chém tau, tau đâm mi”, Q vừa nói xong thì được mọi người can ngăn. Sau đó, Bùi Đức T cầm hai con dao đi về nhà, anh Nguyễn Chính Q cũng để lại con dao tại bếp nhà anh Nguyễn Văn T2 rồi đi về nhà, còn anh Nguyễn Văn T2 được anh Lê Văn H đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 25/5/2025 đến ngày 28/5/2025 thì ra viện.
Ngày 26/5/2025, Bùi Đức T đã đến Công an phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường T, tỉnh Hà Tĩnh) khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 02 con dao mà T đã sử dụng chém anh Nguyễn Văn T2 vào ngày 25/5/2025.
Tại bản kết luận giám định số 168/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 24/6/2025 của Trung tâm P, kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y Tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn T2 tại thời điểm giám định là: Mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải sẹo vết thương kích thước trung bình, tỷ lệ phần trăm TTCT là 02%; Hiện tại cánh tay và cẳng tay phải đang còn cố định bằng bột, chưa xác định được chức năng vận động của khớp cổ tay bàn tay phải, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định nếu có ảnh hưởng đến chức năng vận động khớp cổ tay và bàn tay phải; Mặt sau khuỷu tay trái sẹo vết thương kích thước lớn, tỷ lệ phần trăm TTCT là 03%. Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác đỉnh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 05% (năm phần trăm)
Tại bản kết luận giám định bổ sung số 215/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 17/7/2025 của Trung tâm P, kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y Tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn T2 tại thời điểm giám định là: Vận động duỗi cổ tay và các ngón tay bên phải bình thường, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm); Tại Bản kết luận giám định số 168/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 24 tháng 06 năm 2025 của Trung tâm P là 05% (năm phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là: 05% (năm phần trăm).
Tại bản kết luận giám định số 780/KL-KTHS ngày 24/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 01 (một) con dao ký hiệu A1 gửi giám định là dao sắc nhọn thuộc Phụ lục 5 "Danh mục dao có tính sát thương cao" của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; 01 (một) con dao ký hiệu A2 gửi giám định là dao sắc nhọn thuộc Phụ lục 5 "Danh mục dao có tính sát thương cao" của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì 02 (hai) con dao gửi giám định khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật thì thuộc vũ khí quân dụng.
Ngày 23/7/2025, người bị hại anh Nguyễn Văn T2 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự đối với Bùi Đức T nên ngày 31/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh H đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ án “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 25/5/2025 tại TDP K, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. Đối với hành vi Bùi Đức T sử dụng dao sắc nhọn thuộc Phụ lục 5 "Danh mục dao có tính sát thương cao" của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 Bộ C1, chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T2 có dấu hiệu phạm tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng nên ngày 07/10/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh để xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ từ bị cáo Bùi Đức T:
- 01 (một) con dao bằng kim loại đã qua sử dụng, loại dao 01 lưỡi, mũi nhọn, chiều dài tổng thể 32,5 cm; phần cán dao hình trụ bằng gỗ màu nâu, đường kính 3 cm, chiều dài cán dao 12,5 cm; chiều dài lưỡi dao 20 cm, chỗ rộng nhất 6 cm.
- 01 (một) con dao bằng kim loại đã qua sử dụng, loại dao 01 lưỡi, mũi nhọn, chiều dài tổng thể 32,5 cm; phần cán dao hình trụ dẹt bằng nhựa đen, chiều rộng 3 cm, chiều dài 11,5 cm, dày 1,7 cm; chiều dài lưỡi dao 21 cm, chỗ rộng nhất 4 cm; dao đã bị gãy đầu mũi.
Các vật chứng trên được chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 21/CT-VKS-P1 ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mà mình thực hiện như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có nội dung gì khác. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng; không thắc mắc khiếu nại gì về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt bị cáo Bùi Đức T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Nguyên đơn dân sự không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận, xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:
Vào hồi 17 giờ ngày 25/5/2025, tại nhà anh Nguyễn Văn T2 (số A, ngõ I, đường Đ, TDP K, phường T (nay là phường T), tỉnh Hà Tĩnh) do mâu thuẫn cá nhân nên Bùi Đức T đã sử dụng 01 con dao chém, gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 05%. Theo kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H, con dao mà Bùi Đức T đã sử dụng chém anh Nguyễn Văn T2 là dao sắc nhọn thuộc Phụ lục 5 "Danh mục dao có tính sát thương cao" của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 Bộ C1; theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, con dao mà Bùi Đức T sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe trái pháp luật cho anh Nguyễn Văn T2 là vũ khí quân dụng.
Bị cáo Bùi Đức T là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích cho người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước.
Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tự nguyện bồi thường cho nguyên đơn dân sự anh Nguyễn Văn T2 và được anh T2 làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về căn cứ quyết định hình phạt:
Thời gian gần đây, các hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước, đặc biệt là hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng diễn ra hết sức phức tạp, có chiều hướng gia tăng với nhiều hình thức khác nhau, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Hành vi dùng dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích cho người khác của bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Đây là trường hợp tội phạm mới, được quy định dựa trên Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đưa vụ án này ra xét xử lưu động nhằm tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến toàn thể nhân dân trên địa bàn phường T, tỉnh Hà Tĩnh, để người dân có thể nắm bắt và chấp hành những quy định mới của pháp luật.
Hành vi của bị cáo thể hiện sự ngang nhiên, xem thường pháp luật; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; gây hoang mang, bất bình trong dư luận; gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của nhân dân.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử lý bị cáo một cách thật nghiêm minh với hình phạt nghiêm khắc. Cần phải cách ly bị cáo Bùi Đức T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại đã qua sử dụng, loại dao 01 lưỡi, mũi nhọn, chiều dài tổng thể 32,5 cm; phần cán dao hình trụ bằng gỗ màu nâu, đường kính 3 cm, chiều dài cán dao 12,5 cm; chiều dài lưỡi dao 20 cm, chỗ rộng nhất 6 cm và 01 (một) con dao bằng kim loại đã qua sử dụng, loại dao 01 lưỡi, mũi nhọn, chiều dài tổng thể 32,5 cm; phần cán dao hình trụ dẹt bằng nhựa đen, chiều rộng 3 cm, chiều dài 11,5 cm, dày 1,7 cm; chiều dài lưỡi dao 21 cm, chỗ rộng nhất 4 cm; dao đã bị gãy đầu mũi (do Bùi Đức T giao nộp); đây là công cụ bị cáo sử dụng trong việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
. Đối với những hành vi và những người có liên quan trong vụ án:
- Đối với hành vi Bùi Đức T dùng dao chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%: Ngày 26/5/2025, chị Nguyễn Thị H2 (vợ anh Nguyễn Văn T2) có đơn tố cáo hành vi Cố ý gây thương tích của Bùi Đức T gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H. Đến ngày 23/7/2025, anh Nguyễn Văn T2 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự đối với Bùi Đức T nên ngày 31/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh H đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Ngày 28/8/2025, Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Bùi Đức T, phạt tiền 6.500.000 đồng theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Về vấn đề trách nhiệm dân sự, Bùi Đức T đã bồi thường hỗ trợ về mặt tổn thất vật chất và tinh thần cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền là 15.000.000 đồn, hiện anh Nguyễn Văn T2 không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.
- Đối với anh Nguyễn Văn T2 (trú tại phường T, tỉnh Hà Tĩnh): Kết quả điều tra xác định, ngày 25/5/2025, anh Nguyễn Văn T2 dùng gậy gỗ đánh Bùi Đức T, sau đó bị Bùi Đức T dùng dao chém gây thương tích 05%. Ngày 01/7/2025 Bùi Đức T có đơn từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích Nguyễn Văn T2 dùng gậy gỗ đánh và không có yêu cầu, khiếu nại gì đối với Nguyễn Văn T2. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với đối với Nguyễn Văn T2 là có căn cứ. Ngày 28/8/2025, Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T2, phạt tiền 6.500.000 đồng theo quy định tại 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
- Đối với Nguyễn Chính Q (trú tại phường T, tỉnh Hà Tĩnh): Quá trình điều tra xác định: Ngày 25/5/2025, Nguyễn Chính Q và Bùi Đức T có xẩy ra xô xát, Nguyễn Chính Q có dùng dao để dọa Bùi Đức T nhưng không gây thương tích cho Bùi Đức T. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Chính Q là có căn cứ. Ngày 28/8/2025, Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Chính Q, phạt tiền 6.500.000 đồng theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
- Đối với Nguyễn Thị T1 (mẹ đẻ của Bùi Đức T): Kết quả điều tra xác định con dao Bùi Đức T sử dụng để chém, gây thương tích cho Nguyễn Văn T2 vào ngày 25/5/2025 là con dao do Nguyễn Thị Thanh M1 về trước đó để sử dụng trong gia đình, quá trình Bùi Đức T sử dụng dao đi gây thương tích cho Nguyễn Văn T2 thì Nguyễn Thị T1 không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị T1..
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt bị cáo Bùi Đức T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại đã qua sử dụng, loại dao 01 lưỡi, mũi nhọn, chiều dài tổng thể 32,5 cm; phần cán dao hình trụ bằng gỗ màu nâu, đường kính 3 cm, chiều dài cán dao 12,5 cm; chiều dài lưỡi dao 20 cm, chỗ rộng nhất 6 cm và 01 (một) con dao bằng kim loại đã qua sử dụng, loại dao 01 lưỡi, mũi nhọn, chiều dài tổng thể 32,5 cm; phần cán dao hình trụ dẹt bằng nhựa đen, chiều rộng 3 cm, chiều dài 11,5 cm, dày 1,7 cm; chiều dài lưỡi dao 21 cm, chỗ rộng nhất 4 cm; dao đã bị gãy đầu mũi.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 19/2026 ngày 10/12/2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H và Cơ quan Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Bùi Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Bùi Văn Hồng Lê Văn Vinh sự 2015: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trương Thị Lệ Thu 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình |