vanban.org

Bản án 06/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lương Anh T, tên gọi khác: Lương Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/10/2025.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lương Anh T, tên gọi khác: Lương Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/10/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HS -ST
Ngày 23 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN

[

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương, Bà Trần Hải Yến .

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST

- HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Anh T; Tên gọi khác: Lương Văn T; Sinh ngày 20 tháng 01 năm 2001 tại xã C P, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản H Đ, xã C P, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn H và bà Lô Thị B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30 tháng 3 năm 2018, Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 39/2018/HSST; Ngày 10 tháng 10 năm 2018, Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 44/2018/HS-ST; tổng hợp hình phạt của Bản án số 39/2018/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2018 buộc Lương Anh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 12 tháng tù; Ngày 30 tháng 11 năm 2018, Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 60/2018/HS-ST; tổng hợp hình phạt 12 tháng tù tại Bản án số 44/2018/HS-ST buộc Lương Anh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 20 tháng tù; Ngày 29 tháng 9 năm 2020, Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 12 tháng 6 năm 2022. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2025 đến nay. Có mặt

Bào chữa cho bị cáo Lương Anh T có ông Lê Công Thiết - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An.

Bị hại:

Ông Lương Văn H , sinh năm 1962 – Có mặt

Địa chỉ: Bản H Đ, xã C P, tỉnh Nghệ An

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lang Thị T, sinh năm 1958 – Có mặt

Địa chỉ: Bản H Đ, xã C P, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 13 tháng 9 năm 2025, Lương Anh T ở nhà một mình tại bản H Đ, xã C P, tỉnh Nghệ An, vì không có tiền tiêu xài cá nhân nên T đã trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3i tại ngăn kéo tủ bàn thờ và 1.500.000đ tiền mặt trong ví đặt tại ngăn kéo tủ phòng khách của bố đẻ mình là ông Lương Văn H . Sau đó, T bắt xe taxi đi đến thành phố Hải Phòng để tiêu xài số tiền vừa trộm, sau khi tiêu xài hết tiền, T cầm cố chiếc điện thoại OPPO A3i tại một cửa hàng điện thoại tại thành phố Hải Phòng, bị cáo không nhớ tên cửa hàng và địa chỉ cụ thể rồi bắt xe khách về nhà.

Đến khoảng 13 giờ ngày 01 tháng 10 năm 2025, T ở nhà một mình tại bản H Đ, xã C P, tỉnh Nghệ An, T đã có hành vi trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 đang được sạc pin tại gầm giường ở phòng khách nhà T rồi cất giấu để đem đi bán. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì bị bố đẻ của mình là Lương Văn H và người nhà đi tìm phát hiện và thu giữ điện thoại T vừa trộm được khi chưa kịp tiêu thụ. Sau khi bị phát hiện T mới biết chiếc điện thoại vừa trộm là của bà Lang Thị T do mất điện nên đến nhà T để xin xạc nhờ.

Ngày 02 tháng 10 năm 2025, bà Lang Thị T và ông Lương Văn H đến trụ sở Công an xã C P trình báo về hành vi phạm tội của Lương Anh T. Ông Lương Văn H giao nộp 01 điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO A53 của bà Lang Thị T do Lương Anh T đã trộm vào ngày 01 tháng 10 năm 2025.

Để có cơ sở xác định giá trị đối với chiếc điện thoại OPPO A53 của bà Lang Thị T và 01 điện thoại OPPO A3i của ông Lương Văn H . Ngày 03/10/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định số 32231/YC-VPCACSĐT gửi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã C P, tỉnh Nghệ An để định giá tài sản đối với 02 chiếc điện thoại nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGT ngày 06/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã C P, tỉnh Nghệ An, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3i nàu đen đã qua sử dụng có trị giá 700.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động OPPO A53 màu xanh đã qua sử dụng có trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị đối với 02 chiếc điện thoại nêu trên tại thời điểm định giá là 1.700.000 đồng.

Cáo trạng số: 17/CT-VKS-KV9 ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Anh T, tên gọi khác: Lương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Anh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Anh T, tên gọi khác: Lương Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: người bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu gì thêm nên không xét, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến bào chữa: Quá trình triều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên tôi không tranh luận về phần tội danh. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn rất hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Vì vậy tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, miễn hình phạt bổ sung và miễn tiền án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được sử dụng làm chứng cứ đề Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung: Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 13 tháng 9 năm 2025 lợi dụng sơ hở của gia đình ông Lang Văn H đi vắng nên Lương Anh T đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3i màu đen trị giá 700.000đồng và số tiền 1.500.000 đồng của ông Lang Văn H . Tổng trị giá tài sản được xác định là 2.200.000 đồng

Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo:

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như lời người bào chữa là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo như lời người bào chữa là phù hợp.

Ngày 01/10/2025 Lương Anh T đã có hành vi trộm cắp của bà Lang Thị T 01 điện thoại di động OPPO A53 màu xanh đã qua sử dụng có trị giá 1.000.000 đồng. Xét thấy, hành vi này chưa đến mức phải xử lý hình sự, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An đã có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An xử lý vi phạm hành chính đối với Lương Anh T là đúng quy định của pháp luật.

Về dân sự: Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên miễn xét.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: 01 điện thoại di động nhẵn hiệu OPPO A53 màu xanh đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An đã trả lại cho bà Lang Thị T là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn, có đơn xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Anh T, tên gọi khác: Lương Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/10/2025.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ