vanban.org

Bản án 06/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo H phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HS-ST
Ngày: 19-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quỹ

Ông Nguyễn Văn Thắng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Lam - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Mai Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 26 tháng 04 năm 1984 tại Ninh Bình; số căn cước công dân: 03508401xxxx; nơi thường trú: Thôn 3, xã B, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện tại: Thôn 3, xã B, tỉnh Ninh Bình; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1956 và bà Trần Thị T (đã chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Trịnh Thị H, sinh năm 1989 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27-08-2020 Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25-05-2022; bị cáo bị tạm giữ ngày 09-10-2025, chuyển tạm giam ngày 18-10-2025, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Ninh Bình, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là người nghiện ma túy, đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) lần 01 ngày 15-08-2023 đến ngày 29-01-2024 thì tự ý chấm dứt điều trị, lần 02 từ ngày 29-02-2024 đến ngày 21-06-2024 thì tự ý chấm dứt điều trị. Ngày 07-10-2025, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 90B5-012.xx đến nhà Vũ Mạnh L, sinh năm 1986, cư trú tại số 10/89 đường Đ, phường Thiên Trường, tỉnh Ninh Bình thì được mời làm chứng vụ việc có dấu hiệu về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của L. H khai có quan hệ quen biết với Vũ Mạnh L, bản thân H là người nghiện ma túy. Công an phường Thiên Trường, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành kiểm tra nhanh, phát hiện mẫu nước tiểu của H dương tính với ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Cơ quan điều tra đã thu giữ mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn H (niêm phong) để trưng cầu giám định. Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Nguyễn Văn H tại thôn 3, xã B, tỉnh Ninh Bình không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu nước tiểu đã thu giữ của Nguyễn Văn H. Bản kết luận giám định số 1411/KL-KTHS ngày 09-10-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Có tìm thấy chất Methaphetamine trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong gửi giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: Chiều ngày 05-10-2025, H đi xe khách lên Hà Nội để làm lại bằng lái máy xúc thì tình cờ gặp Q (không rõ lai lịch địa chỉ cụ thể) là bạn lái máy xúc trước đây. Sau đó, H cùng Q và bạn của Q đã rủ nhau đi uống rượu và đi hát karaoke (không nhớ địa chỉ cụ thể). Trong lúc uống rượu, Q kể trước đây H từng sử dụng ma túy nên một người bạn đi cùng Q (không rõ lai lịch địa chỉ cụ thể) đã đưa cho H 01 gói nhỏ ma túy tổng hợp dạng đá, H cầm gói ma túy cất vào túi quần bên phải. Sau khi uống rượu và hát karaoke xong, H đã mua 01 chai nước lọc và 01 cuộn giấy bạc (loại bọc thực phẩm) rồi đi bộ lang thang tìm nơi sử dụng ma túy. Khi tìm thấy một chỗ tối ở góc đường không có người qua lại (không nhớ địa điểm), H lấy chai nước lọc và cuộn giấy bạc đã mua để chế tạo thành dụng cụ sử dụng ma túy rồi lấy gói ma túy đá ra sử dụng bằng hình thức hút. Sau khi hút xong số ma túy, H vất chai nước, cuộn giấy bạc và bật lửa ở góc đường rồi đi xe khách về nhà. Đến chiều ngày 07-10-2025, Nguyễn Văn H đến nhà Vũ Mạnh L thì bị kiểm tra, bắt giữ.

Đối tượng Q và người bạn của Q đã cung cấp ma túy để H sử dụng, H khai không biết lai lịch địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được thông tin, địa chỉ vì vậy không có căn cứ xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 90B5-012.xx đăng ký tên chị Trịnh Thị H, sinh năm 1989 (vợ của H) không liên quan đến việc phạm tội của H nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Trịnh Thị H.

Bản cáo trạng số 48/CT-VKS-KV7 ngày 16-12-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình truy tố Nguyễn Văn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và thừa nhận biết rõ hành vi sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025: Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07-10-2025.

- Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh:

Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như đơn đề nghị đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone của bị cáo; biên bản xác minh việc bị cáo tự ý chấm dứt điều trị cai nghiện ma túy; biên bản bị cáo miêu tả hành vi sử dụng ma túy; phiếu xét nghiệm ma túy đối với bị cáo ngày 07-10-2025; bản kết luận giám định số 1411/KL-KTHS ngày 09-10-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn H là người nghiện ma túy, đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) lần 01 ngày 15-08-2023 đến ngày 29-01-2024 thì tự ý chấm dứt điều trị, lần 02 từ ngày 29-02-2024 đến ngày 21-06-2024 thì tự ý chấm dứt điều trị. Ngày 05-10-2025 Nguyễn Văn H tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine.

(Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục chất ma túy, STT 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-08-2022 của Chính phủ)

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn Nam Định, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025; bị cáo từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng đã được xóa án tích, nay phạm tội ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-09-2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51, 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm minh nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật:

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 90B5-012.32 đăng ký xe mang tên chị Trịnh Thị H, sinh năm 1989 (vợ của H) không liên quan đến việc phạm tội của Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Trịnh Thị H nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 10 năm 2025.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Văn H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ