vanban.org

Bản án 06/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HS-ST
Ngày: 26 – 01 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang, bà Bùi Thị Thêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Công Đức – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Gon Niê - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân khu vực 7 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1966 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Buôn X, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Lê Thị N, có 03, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn 15, xã C, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị N, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Buôn X, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

* Người làm chứng:

- Bà Triệu Thị T2, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Buôn X, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

- Ông Nguyễn Đình H sinh năm 2000. Nơi cư trú: Buôn X, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T1 là Phóng viên tác nghiệp của Tạp chí điện tử “T&M” có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 02/7/2025 T1 được tạp chí giới thiệu đến làm việc tại Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk nhằm mục đích tuyên truyền, tìm hiểu, trao đổi thông tin về công tác quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, xây dựng hoạt động trang trại gây ảnh hưởng môi trường.

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 12/7/2025, ông T1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET biển số 47D-000.11 lưu thông trên đường liên thôn thuộc Buôn X, xã E, tỉnh Đắk Lắk để tác nghiệp thì phát hiện tại trại chăn nuôi của bà Lê Thị N có 01 máy múc và 02 máy ben đang múc đất đồi để san lấp. Thấy vậy, ông T1 sử dụng điện thoại gọi cho bà N hỏi “việc múc đất, cải tạo đất đã được chính quyền địa phương cấp phép chưa” thì bà N trả lời “đã được cấp phép từ lâu”. Tiếp đó, ông T1 nói đang đứng trước công trại heo của bà N thì bà N nói sẽ cho người ra gặp ông T1. Sau khi nói chuyện điện thoại xong, bà N nói với Nguyễn Văn Đ (là chồng của bà N) đi ra cổng trang trại để gặp ông T1 nói chuyện; còn ông T1 điều khiển xe ô tô đi đến cách cổng trang trại trại chăn nuôi heo của bà N khoảng 35m rồi dừng xe lại. Lúc này, ông T1 xuống xe lấy máy Flycam nhãn hiệu DJI AIR 2S (ông T1 chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép bay) ra khởi động, rồi điều khiển máy Flycam bay vào trang trại chăn nuôi của bà N để ghi lại hình ảnh bên trong trang trại. Khi ông T1 đang điều kiển máy Flycam thì anh Nguyễn Đình H nhìn thấy nên anh Huy đi lại hỏi ông T1 “làm gì ở đây” ông T1 trả lời “anh là nhà báo, anh quay phóng sự về môi trường, nhà bà N xây dựng trái phép”. Tiếp đó, ông T1 điều khiển máy Flycam bay từ trong trang trại heo của bà N bay đến hạ xuống nơi ông T1 đang đứng.

Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi ông T1 đang cầm máy Flycam đi lại nơi đậu xe ô tô thì ông Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 47F1 – 743.08 trên tay cầm 01 thanh gỗ dài dài 81cm, rộng 5,2cm đi đến. Khi đến gần Đ hỏi ông T1“Mày làm gì trên đất nhà tao, ai cho mày ở đây?” vừa dứt lời, Đ dùng thanh gỗ đập 01 phát trúng vào máy Flycam, làm máy Flycam rơi xuống đất bị hư hỏng. Tiếp đó, Đ tiếp tục dùng thanh gỗ đánh một nhát trúng vào lưng của ông T1 nhưng không gây thương tích cho ông T1. Sau đó, bà N đi đến can ngăn, có lời nói qua lại với ông T1 và báo lại sự việc đến Công an xã E.

Vật chứng thu giữ: 01 máy Flycam nhãn hiệu DJI AIR 2S, màu xám (đã qua sử dụng), bị gãy khớp nối cánh quạt trước bên phải, bị đứt dây nối giữa Flycam và camera trước; 01 thẻ nhớ dung lượng 4GB, trên thẻ nhớ có ghi chữ 4GB Micro SD HC; 01 thanh gỗ được xẻ có chiều dài 81cm, rộng 5,2cm, một đầu dày 2,5cm, một đầu dẹp mỏng.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 446/KL-HĐĐGTX ngày 23/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Đắk Lắk kết luận: Máy Flycam nhãn hiệu DJI AIR 2S màu xám bị thiệt hại: 3.290.000 đồng.

- Tại Kết luận giám định số: 1103/KL-KTHS ngày 28/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

+ Tập tin video (kí hiệu: A1, A2, A3, A4) không thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

+ Tập tin âm thanh (kí hiệu: A5) không tiến hành giám định (đơn vị chưa khai thác lĩnh vực này).

Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 04/01/2026 của Viện kiểm sát nhân khu vực 7 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Bị hại ông Nguyễn Văn T1 đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng hoặc bị cáo phải bồi thường máy Flycam có giá trị tương đương.

Bị cáo không đồng ý với yêu cầu bồi thường của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm b, h, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 01 thanh gỗ có chiều dài 81cm, rộng 5,2cm, 1 đầu dày 2,5cm, một đầu dẹp mỏng.

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 01 thẻ nhớ dung lượng 4GB, trên thẻ nhớ có ghi chữ 4GB Micro SD HC.

Chấp nhận việc Công an xã E ban hành Quyết định tịch thu 01 máy Flycam nhãn hiệu DJI AIR 2S, màu xám (đã qua sử dụng), bị gãy khớp nối cánh quạt trước bên phải, bị đứt dây nối giữa Flycam và camera trước.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật dân sự. Chấp nhận việc bị cáo tự nguyện nộp số tiền 3.290.000 đồng bồi thường cho ông Nguyễn Văn T1 theo biên lai thu tiền số 0000198 ngày 23/01/2026 của Phòng THA.DS khu vực 7 – Đắk Lắk.

Không chấp nhận việc bị hại ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền do tài sản bị xâm phạm là 6.710.000 đồng.

Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/7/2025, tại trang trại chăn nuôi heo của nhà bà Lê Thị N ở Buôn X, xã E, tỉnh Đắk Lắk, ông Nguyễn Văn T1 đã điều khiển máy Flycam bay vào trong khuôn viên trang trại chăn nuôi heo của gia đình nhà bà N để ghi lại hình ảnh bên trong trang trại khi chưa được bà N cho phép và cũng chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép bay. Sau khi bị phát hiện, ông T1 đã điều khiển máy Flycam bay từ trong trang trại heo của bà N bay đến hạ xuống nơi mình đứng rồi cầm máy Flycam đi lại nơi đậu xe ô tô thì bị cáo đi đến dùng thanh gỗ đập 01 phát trúng vào máy Flycam, làm máy Flycam rơi xuống đất bị hư hỏng. Tiếp đó, bị cáo tiếp tục dùng thanh gỗ đánh một nhát trúng vào lưng của ông T1 nhưng không gây thương tích cho ông T1. Qua định giá, kết luận: Máy Flycam bị thiệt hại: 3.290.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

“Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...... ”

Xét tính chất, mức độ cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi làm hư hỏng tài sản bất hợp pháp sẽ bị xử lý thích đáng theo quy định của pháp luật. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã nộp số tiền 3.290.000 đồng tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đắk Lắk nhằm khắc phục hậu quả, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản thiệt hại không lớn, quá trình lao động, sản xuất bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc, được Ban chấp hành Hội Nông dân tỉnh Đắk Lắk tặng Bằng khen do “Đã có thành tích xuất sắc trong Phong trào Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi; Đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” và Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tặng Bằng khen do “Đã có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất và xây dựng nông thôn mới, góp phần xây dựng giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam vững mạnh”. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần này là nhất thời và có một phần lỗi của bị hại đã dùng Flycam quay phim trang trại nuôi heo của bị cáo khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép bay. Ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật của nhà nước và nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú. Ngoài ra, bị cáo tuy chưa đủ 60 tuổi nhưng bị bệnh đột quỵ và liệt yếu ½ người, hiện đang thực hiện điều trị và vật lý trị liệu. Do đó, cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.

Trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ phải bị khấu trừ một phần thu nhập và phải chịu hình phạt bổ sung. Nhưng xét thấy bị cáo là người cao tuổi, bị bệnh đột quỵ và liệt yếu ½ người, hiện đang thực hiện điều trị và vật lý trị liệu. Do đó, miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là 01 máy Flycam nhãn hiệu DJI AIR 2S, màu xám (đã qua sử dụng), bị gãy khớp nối cánh quạt trước bên phải, bị đứt dây nối giữa Flycam và camera trước. Ngày 31/12/2025, Công an xã E đã ra Quyết định số 29/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với ông T1 về hành vi sử dụng Flycam chưa được đăng ký cấp phép bay với số tiền 1.250.000 đồng và xử phạt bổ sung tịch thu Flycam trên là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 thẻ nhớ dung lượng 4GB, trên thẻ nhớ có ghi chữ 4GB Micro SD HC. Đây là thẻ nhớ của ông T1, có chứa dữ liệu được trích xuất từ điện thoại di động và Camera hành trình của xe ô tô biển số 47D-000.11 ghi lại nội dung cuộc nói chuyện giữa ông T1 với bà Lê Thị N và ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ cố ý làm hư hỏng tài sản nên tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ.

Đối với 01 thanh gỗ được xẻ có chiều dài 81cm, rộng 5,2cm, một đầu dày 2,5cm, một đầu dẹp mỏng. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 446/KL-HĐĐGTX ngày 23/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Đắk Lắk đối với thiệt hại của máy Flycam nhãn hiệu DJI AIR 2S màu xám là 3.290.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của bị hại.

Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 3.290.000 đồng. Được khấu trừ số tiền 3.290.000 bị cáo đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đắk Lắk theo biên lai thu tiền số 0000198 ngày 23/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Bác một phần yêu cầu bồi thường của bị hại đối với số tiền 6.710.000 đồng còn lại.

Đối với hành vi dùng 01 thanh gỗ của bị cáo đánh bị hại một nhát trúng vào lưng nhưng không gây thương tích cho bị hại. Hành vi trên của bị cáo đã bị Công an xã E ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không truy cứu trách nhiệm hình sự” tại Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 16/12/2025 với số tiền 5.750.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị cáo đã nộp đủ số tiền trên.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị hại phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự đối với số tiền yêu cầu bồi thường là 6.710.000 đồng không được Hội đồng xét xử chấp nhận, tương ứng với số tiền 6.710.000 đồng x 5% = 335.500 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

4. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; Các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 thanh gỗ được xẻ có chiều dài 81cm, rộng 5,2cm, một đầu dày 2,5cm, một đầu dẹp mỏng (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng được lập vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 26/01/2026 giữa Công an xã E với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đắk Lắk).

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 01 thẻ nhớ dung lượng 4GB, trên thẻ nhớ có ghi chữ 4GB Micro SD HC.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Nguyễn Văn T1 số tiền là 3.290.000 đồng. Được khấu trừ số tiền 3.290.000 bị cáo đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đắk Lắk theo biên lai thu tiền số 0000198 ngày 23/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Bác một phần yêu cầu bồi thường của ông Nguyễn Văn T1 đối với số tiền 6.710.000 đồng.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị hại ông Nguyễn Văn T1 phải nộp 335.500 đồng (Ba trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ