- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Cường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HS-ST Ngày 20-01-2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Độ.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Ma Tường Vi - Nguyên Hiệu trưởng trường THCS Trọng Điểm, Cẩm Phả, Quảng Ninh; bà Nguyễn Thị Hiền – Nguyên giáo viên trường THCS Cẩm Thành – Cẩm Phả, Quảng Ninh.
- Thư ký phiên toà: ông Lê Xuân Duy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026 tại Phòng xử án Toà án nhân dân Khu vực 3 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực truyến vụ án hình sự thụ lý số: 69/2025/TLST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Quảng Ninh đối với bị cáo:
Lƣơng Văn C, sinh ngày 13/02/1982, tại thành phố Hải Phòng.
Nơi thường trú: tổ dân phố Trại Trên Đồng Phản, phường Trần Hưng Đ, thành phố Thủy Nguyên (nay là phường Lưu K), thành phố Hải Phòng;
Nơi cư trú: khu 3, phường HY, thành phố Móng Cái (nay là phường Móng Cái 3), tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Thê (đã chết) và bà Đỗ Thị Sáu; có vợ Vũ Thị Ngà (đã ly hôn); chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Ngọc Bích; có 02 con;
Tiền án: + Ngày 28/02/2017, bị Tòa án nhân dân HUện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/11/2018 chấp hành xong bản án.
+ Ngày 29/11/2019, bị Tòa án nhân dân HUện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/3/2023 chấp hành xong bản án.
Tiền sự: không;
Nhân thân: + Ngày 24/02/2000, bị Tòa án nhân dân HUện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và phải bồi thường dân sự số tiền 2.066.000 đồng. (đối với phần bồi thường dân sự đã hết thời hiệu thi hành án).
+ Ngày 31/8/2000, bị Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp với 06 tháng 02 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” mà bị cáo chưa thi hành theo Bản án số 01 ngày 24/02/2000 của Tòa án nhân dân HUện Quảng Hà, thành hình phạt chung là 15 tháng 02 ngày tù. Ngày 24/8/2001, chấp hành xong bản án.
+ Ngày 20/12/2004, bị Tòa án nhân dân HUện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/9/2006 chấp hành xong bản án.
+ Ngày 23/4/2007, bị Tòa án nhân dân HUện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/9/2009 chấp hành xong bản án.
+ Ngày 06/01/2010, bị Tòa án nhân dân HUện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án.
Đầu thú ngày 11/3/2025, hiện đang tạm giam. Có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Mông Văn M, sinh năm 1972
Nơi cư trú: Xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bà Trần Thị U, sinh năm 1976
Nơi cư trú: xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị U là ông Mông Văn M. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Bà Phạm Thị PH, sinh năm 1959
Nơi cư trú: xóm Thầy Lùng, thôn Đồng Tiến, phường Mông Dương, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chị Mông Thị HÂ Ma, sinh năm 2002; nơi cư trú: xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Chị Mông Thị HÂ, sinh năm 1999; nơi cư trú: xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Anh Mông Đức HU, sinh năm 2007; nơi cư trú xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của chị Mông Thị HÂ, Mông Thị HÂ Ma và anh Mông Đức HU là ông Mông Văn M. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (ông Mông Văn M, bà Trần Thị U và bà Phạm Thị PH): Luật sư Vũ Hữu Quý – Công ty Luật Hợp Danh Gia Vũ. Có mặt.
4. Anh Vũ Đình Tho, sinh năm 1991.
5. Chị Hà Thị Tiến, sinh năm 2002.
Cùng nơi cư trú: khu 1, phường Móng Cái 3, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt
- Người tham gia tố tụng khác:
*. Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Thanh Hiển, sinh năm 1993. Có mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Ngọc Bích, sinh năm 1998. Vắng mặt (không có lý do).
3. Anh Mông Văn Tiến, sinh năm 1968. Vắng mặt (không có lý do).
4. Anh Mông Văn Nhục, sinh năm 1962. Vắng mặt (không có lý do).
5. Anh Phạm Văn Thiện, sinh năm 1984. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
6. Anh Phạm Quang Hiệp, sinh năm 1982. Vắng mặt (không có lý do).
7. Chị Đặng Thị Ngọ, sinh năm 1952. Vắng mặt (không có lý do).
8. Anh Nguyễn Văn Nghĩa, sinh năm 1959. Có mặt.
9. Anh Đỗ Quang Vinh, sinh năm 1996. Vắng mặt (không có lý do).
10. Cháu Lê Tiến Đạt, sinh năm 2009. Vắng mặt (không có lý do).
Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Tiến Đạt là: anh Lê Văn Quang, sinh năm 1988. Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh tiếp nhận trình báo về 2 vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại nhà ông Mông Văn M, ở xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 05/3/2025 và nhà bà Phạm Thị PH ở xóm Thầy Lùng, thôn Đồng Tiến, xã Dương HU (nay là phường Mông Dương), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 10/3/2025.
Quá trình điều tra xác định: trong khoảng thời gian từ ngày 05/3/2025 đến ngày 10/3/2025, bị cáo Lương Văn C đã sử dụng thủ đoạn thuê, mượn xe ô tô nhãn hiệu NISSAN NAVARA biển kiểm soát 14C-320.42, của anh Nguyễn Thanh Hiển (trú tại: tổ 3, khu Hồng Phong, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái (nay là phường Móng Cái 2), làm nghề kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái, sau đó lắp biển số giả 15C-048.62 để tránh bị phát hiện, rồi di cHUển quanh khu vực xã Hải Hòa và phường Mông Dương, tìm nhà dân sơ hở, không có người trông coi, cạy phá cửa, hòm, tủ của gia đình các bị hại, thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản nêu trên, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Bị cáo Lương Văn C có quen biết anh Vũ Đình Tho (trú tại khu 1, phường Móng Cái 3) do trước đó đã từng đi chấp hành án phạt tù cùng nhau. Ngày 03/3/2025, anh Tho có thuê chiếc xe ô tô NISSAN NAVARA biển kiểm soát 14C-320.42, của anh Nguyễn Thanh Hiển ở tổ 3, khu Hồng Phong, phường Móng Cái 2, sau đó cho C mượn để sử dụng. Sáng ngày 05/3/2025, C điều khiển xe ô tô NISSAN NAVARA trên, nhưng lắp biển số 15C-048.62, di cHUển từ phường Móng Cái 1, đến khu vực xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa. Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 45 phU đến 16 giờ 30 phU cùng ngày, C đã đột nhập vào trong nhà của gia đình ông Mông Văn M tại địa chỉ trên, theo đường cửa phụ phía sau nhà, rồi sử dụng 01 thanh xà cày bằng kim loại, kích thước (90x3)cm, có sẵn ở phía sau vườn nhà ông M, cạy phá cửa ra vào phòng ngủ của vợ chồng ông M và hòm gỗ đựng đồ bên trong phòng, trộm cắp tổng số tiền là 175.000.000 đồng của gia đình ông M để trong các hộp kim loại và phong bì, rồi vứt lại thanh xà cày trên giường ngủ, vứt các hộp kim loại và phong bì tại vườn phía sau nhà. Khoảng 18 giờ cùng ngày, ông M vào trong phòng ngủ thì phát hiện bị trộm cắp tài sản, nên đã trình báo Công an.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: nhà ông Mông Văn M có 04 cửa ra vào. Tại vị trí cửa phụ dẫn ra vườn sau nhà, không có khóa, được cài bằng then ngang kim loại vào hốc khoan trên thành tường. Tại phòng ngủ của vợ chồng ông M: khóa cửa ra vào có dấu vết trượt xước kim loại, bản lề tương ứng vị trí ổ khoá gắn trên tường bị cong vênh biến dạng, bung bật, phần tường xung quanh bị bong tróc vôi vữa; trên giường ngủ có 01 chiếc xà cày bằng kim loại kích thước (90x3)cm; tại hòm gỗ đặt ở góc phòng, phần bản lề khoá gắn trên nắp hòm bị bung bật khỏi vị trí ban đầu, có vết trượt xước gỗ.
Tại Bản kết luận giám định số 279/KL-KTHS ngày 20/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: trên chiếc xà cày gửi giám định có dấu vết ADN của Lương Văn C.
Tại Bản kết luận giám định số 279/KL-KTHS ngày 20/3/2025 và Công văn số 541/KTHS ngày 30/5/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: mẫu chất bám dính trên đầu chiếc xà cày thu giữ trên, cùng loại với mẫu sơn – vữa tường thu giữ tại vị trí chốt hãm cánh cửa phòng ngủ của nhà ông M. Chiếc xà cày có thể gây nên dấu vết tỳ, trượt xước ở mặt ngoài phía trước hòm gỗ bằng cơ chế tỳ, đè và có thể gây nên dấu vết rách, sứt mẻ gỗ, mất sơn ở cạnh cửa phòng ngủ bằng cơ chế cạy, bẩy (khi cửa đóng).
Cơ quan điều tra thu giữ tại hiện trường vụ án: 01 thanh xà cày kim loại, kích thước (90x3)cm; 04 hộp kim loại kích thước lần lượt là (20x5,5x11)cm, (18x7x12)cm, (18,5x7,5x11,2)cm và (18x11x6)cm; 02 bao lì xì đỏ, trong đó 01 bao có ghi chữ “Mông HU (6 triệu 2022)”; 02 phong bì màu trắng, trong đó 01 phong bì ghi chữ “Ma 14 triệu 1500” và 01 phong bì ghi chữ “Khối 9 25/7/2024 (8.500.000 đ) cô: Mông Thị H”.
Thu giữ tại camera an ninh của xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, đoạn video ghi lại hình ảnh xe NISSAN NAVARA màu trắng di cHUển quanh khu vực nhà ông M, vào khoảng thời gian xảy ra vụ án.
Bị cáo C không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản trên, mà khai: ngày 05/3/2025, C chỉ ở nhà không đi đâu và chưa từng đến xã Hải Hoà. C không thể giải thích lý do có dấu vết ADN của C trên chiếc xà cày thu tại hiện trường vụ án. Không lý giải được việc xe ô tô NISSAN NAVARA trên xuất hiện tại khu vực nhà ông M.
Về trách nhiệm dân sự: ông Mông Văn M đại diện gia đình yêu cầu bị can bồi thường số tiền 175.000.000 đồng. Hiện C chưa bồi thường.
Vụ thứ hai: Tối ngày 09/3/2025, anh Tho thuê xe ô tô NISSAN NAVARA biển kiểm soát 14C-320.42 của anh Hiển, nói là đi thành phố Cẩm Phả có việc, rồi rủ C cùng đi. Khoảng 08 giờ ngày 10/3/2025, anh Tho điều khiển xe ô tô 14C-320.42 đến nhà đón C. Trên đường đi, Tho và C có qua Xưởng sấy xương chân gà, tại tổ 9, khu 8, phường Mông Dương, là nơi anh Tho đang phụ giúp việc, nhưng không có hàng, nên C nhờ anh Tho chở vào khu vực xã Dương HU (nay là phường Mông Dương), mục đích của C là tìm nhà dân ở khu vực vắng vẻ, sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Tho điều khiển xe chở C đến khu vực xóm Thầy Lùng, thôn Đồng Tiến, phường Mông Dương, lúc này, xe ô tô NISSAN NAVARA được lắp biển số 15C-048.62. Sau đó, C xuống xe, đi bộ đến nhà bà Phạm Thị PH tại địa chỉ trên. Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 30 phU đến 13 giờ 50 cùng ngày, C đã dùng tay giật, phá chốt cửa bung bật khỏi cánh cửa chính, đột nhập vào trong nhà, tiếp tục dùng tay giật tung ổ khóa của cánh cửa tủ quần áo bằng nhựa, bên trong phòng ngủ của bà PH, trộm cắp tổng số tiền 23.100.000 đồng. Sau đó, C quay lại xe ô tô của Tho, rồi cả 2 đi đến khu vực tổ 1, khu Nam Sơn, phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả (nay là phường Cửa Ông), rồi C điều khiển xe ô tô đi về Móng Cái trước, còn Tho ở lại Cẩm Phả chơi. Khoảng 13 giờ 50 phU cùng ngày, bà PH về nhà thì phát hiện bị trộm cắp tài sản, nên đã trình báo Công an.
Cơ quan điều tra tiến hành rà soát, xác minh, xác định chiếc xe ô tô nhãn hiệu NISSAN NAVARA 14C-320.42 trên, của anh Nguyễn Thanh Hiển, có lắp thiết bị định vị GPS. Khoảng 23 giờ 30 phU cùng ngày, định vị xác định xe đang ở vị trí trên đường Quốc lộ 18A, đoạn thuộc khu 7, phường HY, thành phố Móng Cái (nay là phường Móng Cái 3), Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác định C đang điều khiển xe và triệu tập C làm việc. Ngày 11/3/2025, C đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp nêu trên.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: kHU cài then cửa ra vào nhà bà PH bị bung ốc vít. Cánh cửa tủ quần áo trong phòng ngủ bị bung bật ổ khóa, sổ và giấy tờ trong ngăn tủ có dấu hiệu bị lục lọi.
Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 4.000.000 đồng và 01 điện Tho Iphone 11 màu đen, C giao nộp khi đầu thú. Thu giữ trên xe ô tô NISSAN NAVARA biển kiểm soát 14C-320.42 gồm: 02 biển số 15C-048.62. Thu giữ tại hiện trường: 01 thanh cài cửa kim loại có gắn ổ khóa, 01 quyển sổ, 01 chiếc ví màu đen.
Thu giữ tại camera an ninh của xóm Thầy Lùng, thôn Đồng Tiến và gia đình anh Phạm Quang Hiệp, hàng xóm cạnh nhà bà PH, 02 đoạn video ghi lại hình ảnh xe NISSAN NAVARA màu trắng, gắn biển số 15C-048.62, di cHUển qua khu vực nhà bà PH, vào khoảng thời gian xảy ra vụ án. Thu giữ tại camera của nhà nghỉ Dream Night ở tổ 1, khu Nam Sơn, phường Cửa Ông, đoạn video ghi lại hình ảnh anh Tho giao lại xe ô tô cho C điều khiển. Thu giữ tại camera của các Trạm thu phí BOT Đoàn Kết, đặc khu Vân Đồn và BOT Cẩm Y, xã Hải Hòa, hình ảnh xe NISSAN NAVARA màu trắng, gắn biển số 14C-320.42.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 điện Tho XS màu đen do anh Vũ Đình Tho giao nộp; 01 sợi dây cHUền bằng kim loại màu vàng do chị Hà Thị Tiến (vợ anh Tho) giao nộp (là đồ vật anh Tho mang về tặng chị Tiến sau khi đi cùng C); 01 điện Tho Iphone 14 ProMax do chị Nguyễn Thị Ngọc Bích (hiện chung sống như vợ chồng với C) giao nộp (là đồ vật C mang về tặng chị Bích vào ngày 06/3/2025).
Ban đầu bị cáo C khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung trên. C khai thêm: Tho là người khởi xướng, rủ C đi trộm cắp tài sản. Khi đột nhập vào trong nhà bà PH, C lục lọi và lấy số tiền trong 01 quyển sổ, nhưng chỉ có khoảng hơn 4.000.000 đồng. Sau đó, C có chia cho Tho khoảng vài trăm nghìn, còn lại 4.000.000 đồng là số tiền thu giữ. Biển số 15C-048.62 là do Tho chuẩn bị và dùng băng dính dán đè lên biển số 14C-320.42, khi đi trộm cắp. Sau đó, bị cáo C thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội, mà khai: trưa ngày 10/3/2025, C nhờ Tho chở vào Dương HU để tìm nhà người quen, nhưng không biết rõ lai lịch, địa chỉ. Không vào nhà bà PH trộm cắp tài sản. Trước đây, do C bị đánh, ép buộc trong quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, nên mới khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản cáo trạng số: 22/CT-VKSKV3 ngày 27/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh truy tố bị cáo Lương Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Quảng Ninh giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn C từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đầu thú, ngày 11/3/2025.
Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: trả lại cho bà Phạm Thị PH số tiền 4.000.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 con lợn đất, 01 đoạn dây điện, 01 đèn pin đội đầu, 04 hộp kim loại, 01 thanh xà cày, thu giữ tại nhà ông Mông Văn M; 01 thanh cài cửa kim loại gắn kèm móc khóa, 01 ví màu đen, thu giữ tại nhà bà PH; 01 con dao quắm, 01 xà beng, 01 áo khoác, 01 khẩu trang, 01 lưỡi dao dọc giấy, 01 kéo, thu trên xe NISSAN 14C-320.42, 01 sim điện Tho của bị cáo C. Trả lại 01 điện Tho di động Iphone cho anh Vũ Đình Tho và 01 dây cHUền kim loại màu vàng cho chị Hà Thị Tiến. Đối với các 02 bao lì xì, 02 phong bì, mảnh giấy ghi chép số tiền, bản phô tô giấy phép lái xe và bảo hiểm y tế, 01 quyển sách thu giữ tại nhà ông M; 01 quyển vở thu tại nhà bà PH và 03 USB lưu trữ các đoạn video, dữ định vị GPS, dữ liệu phục hồi điện Tho, là các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Tiếp tục tạm giữ 01 điện Tho Iphone 14 ProMax, 01 điện Tho Iphone 11 của bị cáo C để đảm bảo thi hành phần bồi thường dân sự. Giao bộ biển số 15C-048.62 (gồm 2 biển số) cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh để xử lý theo quy định.
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Lương Văn C phải bồi thường cho bị hại Mông Văn M và chị Trần Thị U số tiền 175.000.000 đồng; bị hại bà Phạm Thị PH số tiền là 19.100.000 đồng..
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (anh Mông Văn M, chị Trần Thị U và chị Phạm Thị PH): Luật sư Vũ Hữu Quý – Công ty Luật Hợp Danh Gia Vũ trình bày: Đồng ý với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Quảng Ninh, nhưng đối với bản luận tội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tình tiết người phạm tội “Đầu thú” theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị và đề nghị áp dụng mức hình phạt cao nhất là 07 năm tù đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: việc áp dụng tình tiết “Đầu thú” là có căn cứ theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Còn đối với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với nội dung vụ án, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà ông Mông Văn M và bà Phạm Thị PH. Bị cáo không tranh luận gì đối với bản luận tội và cho rằng mình không phạm tội. Lời nói sau cùng của bị cáo ngoài đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo không có ý kiến, tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, phù hợp với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Lương Văn C không thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại nhà bà Phạm Thị PH và tại nhà ông Mông Văn M, để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Lương Văn C có đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố hay không cần căn cứ vào các chứng cứ sau:
Sau khi đầu thú ngày 11/3/2025 về hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/3/2025 tại nhà bà Phạm Thị PH, trong quá trình điều tra ban đầu, bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội của mình, sáng ngày 10/3/2025, bị cáo C đi cùng anh Vũ Đình Tho (anh Tho thuê xe ô tô NISSAN NAVARA 14C-320.42 của anh Nguyễn Thanh Hiển), từ Móng Cái đến Xưởng sấy xương chân gà, tại tổ 9, khu 8, phường Mông Dương, là nơi anh Tho đang phụ giúp việc, nhưng không có hàng, nên bị cáo nhờ anh Tho chở vào khu vực xã Dương HU (nay là phường Mông Dương), mục đích của bị cáo là tìm nhà dân ở khu vực vắng vẻ, sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ cùng ngày, anh Tho điều khiển xe chở bị cáo đến khu vực đường dân sinh dẫn lên đồi, dân cư thưa thớt, khu vực xóm Thầy Lùng, thôn Đồng Tiến phường Mông Dương, lúc này xe ô tô NISSAN NAVARA được lắp biển số 15C-048.62. Sau đó, bị cáo xuống xe, đi bộ vào 01 căn nhà cấp 4, không có cổng, khóa cửa ngoài, không có người ở nhà, là nhà bà Phạm Thị PH. Do thấy cánh cửa ra vào bằng gỗ đã cũ, nên bị cáo dùng tay giật mạnh nhiều lần phần then cài thì chốt cửa chính bị bung ra. Bị cáo vào trong nhà, dùng tay giật mạnh cánh tủ quần áo bằng nhựa bên trong phòng ngủ của bà PH, làm bung khóa, sau đó lục lọi một số quyển sổ ở trong tủ thì thấy có rơi ra nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau, từ 20.000 đồng đến 500.000 đồng, tổng cộng là 23.100.000 đồng. Bị cáo nhặt tiền cất vào túi quần, sau đó bị cáo quay lại xe ô tô của Tho, rồi cả 2 đi về khu vực tổ 1 khu Nam Sơn, phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả (nay là phường Cửa Ông). Tại đây, bị cáo có cho anh Tho khoảng 600.000 đồng, rồi bị cáo tự điều khiển xe NISSAN NAVARA 14C-320.42 về Móng Cái trước. Đến đêm cùng ngày thì bị cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ trên xe số tiền 4.000.000 đồng, là số tiền bị cáo vừa trộm cắp được của nhà bà PH.
Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Bị hại bà Phạm Thị PH có lời khai trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện: khoảng từ 12 giờ 30 phU đến 13 giờ 50 phU ngày 10/3/2025, bà sang nhà hàng xóm chơi, khi về nhà thì thấy cửa ra vào và cửa tủ quần áo bị cạy phá, đồ đạc trong phòng ngủ bị lục lọi. Bà kiểm tra thì thấy bị mất tổng số tiền 23.100.000 đồng. Số tiền này do bà rU tiết kiệm ở ngân hàng và được con trai là Phạm Văn Thiện mừng tuổi vào Tết năm 2025. Bà nhớ được chính xác số tiền này, vì tối ngày 09/3/2025, bà có bỏ tiền ra để đếm lại và cất đi.
Kết quả khám nghiệm hiện trường tại nhà bà Phạm Thị PH, thể hiện: kHU cài then cửa ra vào bị bung ốc vít khỏi cánh cửa bên trái, ổ khóa còn nguyên tại chốt khóa ngang. Cánh cửa tủ quần áo trong phòng ngủ bị bung bật ổ khóa, 01 quyển vở trong tủ, ví và giấy tờ có dấu hiệu bị lục lọi.
Kết quả bị cáo thực nghiệm điều tra: bị cáo tự xác định vị trí căn nhà nơi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, vị trí lấy tiền và diễn lại hành vi phạm tội, cơ bản phù hợp như nội dung trên, lời khai bị hại và kết quả khám nghiệm hiện trường.
Cơ quan điều tra thu giữ tại camera an ninh của xóm Thầy Lùng, thôn Đồng Tiến và gia đình anh Phạm Quang Hiệp, hàng xóm cạnh nhà bà PH, 02 đoạn video ghi lại hình ảnh xe NISSAN NAVARA màu trắng, gắn biển số 15C-048.62, di cHUển qua khu vực nhà bà PH, vào khoảng thời gian xảy ra vụ án. Thu giữ tại camera của nhà nghỉ Dream Night ở tổ 1, khu Nam Sơn, phường Cửa Ông, đoạn video ghi lại hình ảnh anh Tho giao lại xe ô tô cho bị cáo C điều khiển. Thu giữ tại camera của các Trạm thu phí BOT Đoàn Kết, đặc khu Vân Đồn và BOT Cẩm Y, xã Hải Hòa, hình ảnh xe NISSAN NAVARA màu trắng, có đặc điểm tương tự chiếc xe trên, nhưng gắn biển số 14C-320.42.
Định vị GPS lắp trên xe NISSAN NAVARA 14C-320.42, do anh Nguyễn Thanh Hiển là người cho thuê xe ô tô cung cấp: thể hiện lịch trình di cHUển phù hợp các hình ảnh video thu giữ và nội dung vụ án, xác định xe 14C-320.42 có mặt tại khu vực nhà bị hại bà PH trong khoảng từ 12 giờ 07 phU đến 13 giờ 10 phU ngày 10/3/2025. Phù hợp định vị cột sóng điện Tho đối với số thuê bao 0983352997 của bị cáo C, xác định tại thời điểm 13 giờ 16 phU, bị cáo đang có mặt tại thôn Đoàn Kết, xã Dương HU.
Ngoài ra, còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: lời khai người làm chứng anh Phạm Văn Thiện và thông tin tại Giấy lĩnh tiền của bà PH tại ngân hàng Viettinbank phù hợp với lời khai của bà PH về nguồn gốc số tiền bị mất và phù hợp với lời khai các ông, bà Phạm Quang Hiệp, Nguyễn Văn Anh, Đặng Thị Ngọ, là hàng xóm, về việc ngay sau khi phát hiện bị mất trộm, bà PH có báo cho ông, bà kể là bị mất khoảng 23 triệu.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo C thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội, mà nại ra khai: trưa ngày 10/3/2025, bị cáo nhờ anh Tho chở vào Dương HU có việc. Không vào nhà bà PH trộm cắp tài sản. Bị cáo nhiều lần thay đổi về lý do đến khu vực xã Dương HU: có lúc khai để đi thu mua chân gà, có lúc khai đi K củi, có lúc khai đi tìm nhà người quen, nhưng không biết nhân thân, lai lịch cụ thể. Lời khai chối tội của bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận, trong quá trình điều tra đã nhiều lần thay đổi lời khai, khai báo quanh co, đưa ra các lý do có mặt tại khu vực nhà bị hại, nhưng Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, kiểm tra, đều không đúng như lời bị cáo khai.
Còn đối với vụ trộm cắp tài sản tại gia đình bị hại ông Mông Văn M bị cáo C cũng không thừa nhận hành vi phạm tội, để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Lương Văn C căn cứ vào các chứng cứ sau:
Bị hại ông Mông Văn M, bà Trần Thị U và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh chị Mông Thị H Ma, Mông Thị HÂ, Mông Đức HU (con của ông M, bà U) tuy vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng đều có lời khai trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 12 giờ 45 ngày 05/3/2025, bà U là người cuối cùng ra khỏi nhà, khi đi có đóng các cửa ra vào, cửa phòng ngủ. Đến khoảng 16 giờ 30 phU cùng ngày, chị Ma về nhà đầu tiên và phát hiện cửa phụ dẫn ra sau vườn và cửa phòng ngủ vợ chồng ông M đang mở. Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi cả nhà ăn cơm, chị Ma có kể lại sự việc này, thì ông M vào phòng ngủ kiểm tra và phát hiện gia đình bị trộm cắp tài sản. Cửa và hòm đựng tài sản bị cạy phá, trên giường ngủ có để lại 01 thanh xà cày, là dụng cụ của gia đình, dùng để sửa nhà và để ở phía sau vườn, không ai sử dụng từ rất lâu. Gia đình ông xác định số tài sản bị trộm cắp là 175.000.000 đồng tiền mặt và 02 dây cHUền vàng, gồm: 75.000.000 đồng tiền lương tiết kiệm từ đầu năm 2024, lần gần nhất ông bà kiểm tra là sau khi rU lương vào cuối tháng 02/2025 vẫn đủ số tiền này; 36.000.000 đồng tiền tử tuất của bố là ông Mông Văn Mùng (mất ngày 26/12/2024), rU vào tháng 02/2025 từ ngân hàng Vietcombank; 34.000.000 đồng tiền phúng viếng đám tang ông Mùng, do các anh em trong gia đình ông M giao lại cho ông; 6.000.000 đồng tiền mừng tuổi của anh HU, đựng trong 01 bao lì xì màu đỏ ghi chữ “Mông HU (6 triệu 2022)”; 15.500.000 đồng là tiền tích góp của chị Ma, trong 01 phong bì màu trắng, ghi chữ “Ma 14 triệu 1500”; 8.500.000 đồng là tiền của chị HÂ, trong 01 phong bì màu trắng, ghi chữ “Khối 9 25/7/2024 (8.500.000 đ) cô: Mông Thị H”. Đối với 02 sợi dây cHUền vàng, gia đình ông M, bà U không nhớ đặc điểm của tài sản, không còn lưu giữ thông tin, giấy tờ xác định giá trị. Gia đình ông không yêu cầu bồi thường đối với tài sản này.
Kết quả khám nghiệm hiện trường tại nhà ông M ở xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, thể hiện: căn nhà có 4 cửa ra vào. Cửa phụ dẫn ra vườn sau nhà không có khóa, cài bằng then ngang kim loại vào hốc khoan trên thành tường. Khóa cửa phòng ngủ của vợ chồng ông M có vết trượt xước, bản lề ổ khoá cong vênh biến dạng, bung bật, phần tường xung quanh bong tróc vôi vữa; tại hòm gỗ đặt ở góc phòng, phần bản lề khoá gắn trên nắp hòm bị bung bật, có vết trượt xước gỗ. Thu giữ: trên giường phòng ngủ 01 chiếc xà cày kim loại kích thước (90x3)cm; tại khu vực vườn phía sau nhà 01 bao lì xì đỏ có ghi chữ “Mông HU (6 triệu 2022)”, 01 phong bì trắng có ghi chữ “Ma 14 triệu 1500”, 01 phong bì trắng ghi chữ “Khối 9 25/7/2024 (8.500.000 đ) cô: Mông Thị H”, 01 mảnh giấy có ghi chữ “Mông HU 10.000 đồng”. Quá trình khám nghiệm, ghi nhận việc nếu dùng tay ấn mạnh nhiều lần theo hướng từ ngoài vào cánh cửa lách trên, khi cửa bị rung lắc, thì then ngang có thể tuột ra khỏi hốc khoan trên thành tường, mở được cửa từ bên ngoài.
Tại các Bản kết luận giám định số 277/KL-KTHS ngày 20/3/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: trên chiếc xà cày gửi giám định có dấu vết ADN của bị cáo Lương Văn C. Không có dấu vết ADN của ông Mông Văn M, bà Trần Thị U, các anh, chị Mông Thị HÂ, Mông Thị HÂ Ma, Mông Đức HU và 10 người khác (là những người hàng xóm xung quanh khu vực nhà ông M).
Tại Bản kết luận giám định số 279/KL-KTHS ngày 20/3/2025 và Công văn số 541/KTHS ngày 30/5/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: mẫu chất bám dính trên đầu chiếc xà cày thu giữ trên, cùng loại với mẫu sơn – vữa tường thu giữ tại vị trí chốt hãm cánh cửa phòng ngủ của nhà ông M. Chiếc xà cày có thể gây nên dấu vết tỳ, trượt xước ở mặt ngoài phía trước hòm gỗ bằng cơ chế tỳ, đè và có thể gây nên dấu vết rách, sứt mẻ gỗ, mất sơn ở cạnh cửa phòng ngủ bằng cơ chế cạy, bẩy (khi cửa đóng).
Ngoài ra, còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: sao kê tài khoản ngân hàng Vietcombank của ông M về việc lĩnh tiền tử tuất; sao kê tài khoản ngân hàng của ông M, bà U về việc rU tiền lương hàng tháng; sổ ghi chép tiền phúng viếng đám ma của gia đình ông M; lời khai những người làm chứng là các ông Mông Văn Tiến, Mông Thị Nhân, Mông Văn Nhục (là anh, em của ông M) và các anh Mông Văn Lợi, Mông Văn Quyền, Mông Văn Hải (họ hàng gần nhà ông M) được nghe ông M kể lại về việc mất các tài sản như trên.
Những người làm chứng là anh Vũ Đình Tho và cháu Lê Tiến Đạt đều khai: chiếc xe NISSAN NAVARA biển kiểm soát 14C-320.42 do anh Tho thuê của anh Hiển từ ngày 04/3/2025. Đến sáng ngày 05/3/2025, Tho, Đạt cùng bị cáo C đi từ Móng Cái đến Cẩm Phả. Khi đến xưởng sấy chân gà, thì C mượn xe ô tô 14C-320.42 đi đâu không rõ, đến 18 giờ cùng ngày mới quay lại đón anh Tho cùng về Móng Cái.
Cơ quan điều tra đã thu giữ tại camera an ninh của xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa, đoạn video ghi lại hình ảnh chiếc xe NISSAN NAVARA màu trắng, có đặc điểm phù hợp như trên, di cHUển quanh khu vực nhà ông M, vào khoảng thời gian xảy ra vụ án. Dữ liệu định vị GPS lắp trên xe ô tô 14C-320.42, do anh Nguyễn Thanh Hiển cung cấp: thể hiện lịch trình di cHUển phù hợp lời khai anh Tho và cháu Đạt. Xe ô tô 14C-320.42, có mặt tại khu vực nhà bị hại M, tại địa chỉ trên, trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 16 giờ ngày 05/3/2025.
Trong quá trình điều tra, bị cáo C không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản tại gia đình ông Mông Văn M, mà khai: ngày 05/3/2025, C chỉ ở nhà không đi đâu và chưa từng đến xã Hải Hoà. Nhưng bị cáo C không giải thích được lý do có dấu vết ADN của bị cáo trên chiếc xà cày thu tại hiện trường vụ án. Không lý giải được việc xe ô tô NISSAN NAVARA trên xuất hiện tại khu vực nhà ông M.
Ngoài ra, người làm chứng là chị Nguyễn Thị Ngọc Bích (hiện chung sống như vợ chồng với bị cáo C) xác định: Bị cáo C vắng nhà từ 01/3/2025 đến 06/3/2025 mới về, không rõ đi đâu. Ngoài ra, chị Bích còn khai: Khi về, C đưa cho chị 01 điện Tho Iphone 14 Promax còn mới, để sử dụng. Mặc dù, bị cáo C hiện là lao động tự do, thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo C và chị Bích đang có hoàn cảnh khó khăn.
Cơ quan điều tra xác minh, xác định bị cáo C mua chiếc điện Tho Iphone 14 Promax trên tại cửa hàng điện Tho Quang Vinh, của anh Đỗ Quang Vinh, ở tổ 3, khu Cẩm Trung 3C, phường Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, vào sáng ngày 06/3/2025, với giá 19.000.000 đồng.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, nội dung các kết luận giám định, các dữ liệu điện tử, vật chứng đã thu thập và lời khai của bị hại, những người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đủ cơ sở xác định, ngày 05/3/2025 và ngày 10/3/2025, bị cáo C đột nhập nhà bị hại ông Mông Văn M, bà Trần Thị U và bà Phạm Thị PH cạy phá, trộm cắp tài sản. Việc các bị hại bà Phạm Thị PH khai báo tổng số tiền bị trộm cắp là 23.100.000 đồng; ông Mông Văn M, Trần Thị U và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh chị Mông Thị HÂ Ma, Mông Thị HÂ, Mông Đức HU khai báo tổng số tiền bị trộm cắp là 175.000.000 đồng, là hoàn toàn khách quan và phù hợp với các chứng cứ khác là các tài liệu xác minh nguồn gốc tài sản và lời khai những người làm chứng.
Bị cáo Lương Văn C phạm tội lần này thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Như vậy, với các chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/3/2025 đến 10/3/2025, tại xóm 1, thôn 3, xã Hải Hòa và xóm Thầy Lùng, thôn Đồng Tiến, phường Mông Dương, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Lương Văn C đã có hành vi trộm cắp của gia đình ông Mông Văn M số tiền là 175.000.000 đồng và trộm cắp của bà Phạm Thị PH số tiền là 23.100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản C trộm cắp là 198.100.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Lương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù.
Bị cáo C khai báo cùng tham gia trộm cắp tài sản vào ngày 10/3/2025 còn có Vũ Đình Tho, sau đó C thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập chỉ đủ căn cứ xác định ngày 10/3/2025, Tho có điều khiển xe chở C vào khu vực xã Dương HU, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ khác để xác định Tho biết hoặc có tham gia cùng C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên không đủ căn cứ xử lý.
Việc bị cáo C thay đổi lời khai, khai báo về việc bị đánh, ép buộc trong quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra là không có căn cứ.
Anh Nguyễn Thanh Hiển là người cho anh Tho thuê xe, nhưng không biết việc C sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản, nên không cấu thành tội phạm.
Ông Mông Văn M còn trình báo bị trộm cắp 02 sợi dây cHUền vàng, nhưng quá trình điều tra không xác định được đặc điểm, thông tin, tài liệu chứng minh nguồn gốc tài sản, ông M không yêu cầu bồi thường đối với 02 sợi dây cHUền trên, nên không đề cập xử lý.
Đối với 02 chiếc biển số 15C-048.62 thu giữ trên xe ô tô 14C-320.42 bị cáo C và các anh Tho, Hiển khai không biết về nguồn gốc. Anh Phạm Ngọc Cay khai không bị mất bộ biển số trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định đây không phải bộ biển số xe do Cơ sở sản xuất biển số xe cơ giới – Bộ Công an sản xuất, nên cần tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, thì thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu về tài sản; gây mất an ninh trật tự trị an ở địa phương nói riêng, trật tự xã hội nói chung. Trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã liên tục thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, với thủ đoạn tương tự nhau. Bị cáo, lựa chọn các căn nhà ở vùng rừng núi, dân cư thưa thớt, lợi dụng lúc gia đình các bị hại vắng nhà, sơ hở trong việc cất giữ, bảo quản tài sản, bị cáo đã cạy phá cửa, đồ đạc, lén lU đột nhập vào nhà của bị hại trộm cắp tiền. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo vẫn quanh co không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu, đã 07 lần bị Tòa án xét xử, trong đó bị xét xử 06 lần về tội “Trộm cắp tài sản”, và 01 lần về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Đến nay chưa được xóa án tích đối với các bản án năm 2017 và 2019 về tội “trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.
. Tuy nhiên cũng cần phải xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Văn C thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, các lần phạm tội đầu đủ yếu tố cấu thành thội phạm, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình trong giai đoạn đầu điều tra, nhưng quá trình điều tra giai đoạn sau và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, khai báo còn quanh co, chưa thành khẩn, nên có thể coi Đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung về tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm và bồi thường trong vụ án:
Đối với số tiền 4.000.000 đồng thu giữ của bị cáo, đủ cơ sở xác định đây là tiền do bị cáo trộm cắp của bà Phạm Thị PH vào ngày 10/3/2025 mà có, nên cần trả lại cho bà PH.
Đối với: 01 con lợn đất, 01 đoạn dây điện, 01 đèn pin đội đầu, 04 hộp kim loại, 01 thanh xà cày, thu giữ tại nhà ông Mông Văn M; 01 thanh cài cửa kim loại gắn kèm móc khóa, 01 ví màu đen, thu giữ tại nhà bà PH, là các đồ vật, vật chứng liên quan đến vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng, các bị hại đều không đề nghị nhận lại, nên cần tịch thu tiêu hủy. Còn 01 con dao quắm, 01 xà beng, 01 áo khoác, 01 khẩu trang, 01 lưỡi dao dọc giấy, 01 kéo, thu trên xe NISSAN 14C-320.42, 01 sim điện Tho của bị cáo C, không liên quan đến hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không đề nghị nhận lại, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với bộ biển số 15C-048.62 (gồm 2 biển) xác định không phải bộ biển số xe do Cơ sở sản xuất biển số xe cơ giới – Bộ Công an sản xuất, hiện chưa xác minh được nguồn gốc, nên cần giao lại cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
Đối với 01 điện Tho di động Iphone 11 và 01 điện Tho Iphone 14 ProMax, thu giữ của bị cáo Lương Văn C, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành phần bồi thường dân sự.
Đối với 01 điện Tho di động Iphone của anh Vũ Đình Tho và 01 dây cHUền kim loại màu vàng do chị Hà Thị Tiến giao nộp, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho các chủ sở hữu.
Đối với các 02 bao lì xì, 02 phong bì, mảnh giấy ghi chép số tiền, bản phô tô giấy phép lái xe và bảo hiểm y tế, 01 quyển sách thu giữ tại nhà ông M; 01 quyển vở thu tại nhà bà PH và 03 USB lưu trữ các đoạn video, dữ định vị GPS, dữ liệu phục hồi điện Tho, là các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Về bồi thường: Quá trình điều tra xác định số tiền chiếm đoạt của gia đình bị hại Mông Văn M chưa thu hồi được là 175.000.000 đồng; của bị hại Phạm Thị PH là 23.100.000 đồng, trong đó đã thu hồi được số tiền là 4.000.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại ông Mông Văn M, bà Trần Thị U số tiền 175.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại bà Phạm Thị PH số tiền là 23.100.000 đồng - 4.000.000 đồng = 19.100.000 đồng.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này cơ bản phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4, 5 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 589, 357 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lương Văn C 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 3 năm 2025.
Về vật chứng, xử lý số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm và bồi thường trong vụ án:
Trả cho bà Phạm Thị PH số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Theo biên bản giao nhận tài sản số 03 ngày 23/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh với Phòng giao dịch số 7 (Nay là phòng giao dịch số 13) Kho bạc Nhà nước khu vực III (tiền vật chứng thu giữ).
Trả cho anh Vũ Đình Tho 01 điện Tho di động Iphone.
Trả cho chị Hà Thị Tiến 01 dây cHUền kim loại màu vàng. Theo biên bản giao nhận tài sản số 33 ngày 06/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh với Phòng giao dịch số 13 Kho bạc Nhà nước khu vực III (sợi dây cHUền bằng kim loại màu vàng – vật chứng được thu giữ).
Tạm giữ để đảm bảo thi hành phần bồi thường đối với 01 điện Tho di động Iphone 11 và 01 điện Tho Iphone 14 ProMax, thu giữ của bị cáo Lương Văn C.
Đối với bộ biển số 15C-048.62 (gồm 2 biển) xác định không phải bộ biển số xe do Cơ sở sản xuất biển số xe cơ giới – Bộ Công an sản xuất, hiện chưa xác minh được nguồn gốc, giao lại cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con lợn đất, 01 đoạn dây điện, 01 đèn pin đội đầu, 04 hộp kim loại, 01 thanh xà cày; 01 thanh cài cửa kim loại gắn kèm móc khóa, 01 ví màu đen, 01 con dao quắm, 01 xà beng, 01 áo khoác màu đen, 01 khẩu trang, 01 lưỡi dao dọc giấy, 01 kéo, 01 sim điện Tho của bị cáo C, 01 sim điện Tho của anh Vũ Đình Tho.
Tình trạng vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số: 45/BB-THA.KV3 ngày 16/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Quảng Ninh.
Buộc bị cáo Lương Văn C có nghĩa vụ bồi thường cho ông Mông Văn M, bà Trần Thị U số tiền 175.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và có nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thị PH số tiền là 19.100.000 đồng (Mười chín triệu, một trăm nghìn đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Bị cáo Lương Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 9.705.000 đồng (Chín triệu, bảy trăm không lăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo;bị hại, người có QLNVLQĐVA - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; - VKSND, Khu vực 3- Quảng Ninh; - VKSND; TAND tỉnh Quảng Ninh; - Phòng PC 06 Công an tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh; - Phòng THADS Khu vực 3-Quảng Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Độ |