vanban.org

Bản án 06/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 12/01/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HS-PT
Ngày: 12-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tôn

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng

Ông Nguyễn Chí Dững

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 318/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn L. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2025/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Tháp.

- Bị cáo kháng cáo: NGUYỄN VĂN L, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2001 tại: tỉnh Tiền Giang (cũ); Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp. (trước đây là ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số căn cước công dân: 082201003859; Cấp ngày 19/11/2024; Nơi cấp: Bộ C; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 và mẹ tên Lê Thị Hồng T, sinh năm 1980; Bị cáo có 01 người anh sinh năm 1998; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: Không; Tiền án: 02.

- Ngày 15/3/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (nay Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST. Chấp hành hình phạt tù ngày 30/6/2022.

- Ngày 03/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (nay Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Tháp) xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/11/2024.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/7/2025, chuyển tạm giam từ ngày 16/7/2025 đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh Đ. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, ngư i có quyền l i ngh a vụ liên quan không có kháng cáo và Viện ki m sát không có kháng nghị.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 10/6/2025 bị cáo Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Future màu đỏ-đen, biển số 63G1-106.92 đến nhà của Nguyễn Văn T1, sinh năm 1998, nơi thường trú: ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp chơi, tại đây T1 rủ bị cáo L đi bắt trộm gà, bị cáo L đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63G1-106.92 chở bị cáo L đi trên đường C, khi đến nhà của anh Ngô Tuấn K, nơi thường trú: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (cũ) nhìn thấy bên trong nhà có nuôi nhiều gà trống và không người trông giữ nên T1 và bị cáo L nảy sinh ý định vào nhà trộm gà. T1 dừng xe, mở cốp xe lấy 01 cây kìm và 01 cây tua vít bằng kim loại cắt lưới hàng rào B40 để bị cáo L đi vào bên trong nhà, đến chỗ lồng bằng kim loại bắt 01 con gà trống lông màu vàng - xám, sau đó tiếp tục đi đến lồng bằng kim loại kế bên bắt 01 con gà trống lông màu trắng - xám. Bị cáo L ôm hai con gà trống trộm được lên xe để T1 điều khiển chạy về nhà bà Nguyễn Thị T2 (có quan hệ là bà nội bị cáo L) cất giấu trong phòng ngủ. Ngày 11/6/2025 anh K phát hiện mất gà nên trình báo Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (cũ).

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG ngày 19/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang (cũ), kết luận:

- 01 (một) con gà trống đá (loại gà tre) lông màu vàng - xám, trọng lượng 1.2kg có giá trị thiệt hại là 120.000 đồng.

- 01 (một) con gà trống đá (loại gà tre) lông màu trắng - xám, trọng lượng 1.4 kg có giá trị thiệt hại là 140.000 đồng.

Tổng thiệt hại tài sản là 260.000 (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

* Vật chứng, đồ vật thu giữ và xử lý:

- 01 (một) đĩa DVD có chứa 01 (một) đoạn camera có thời lượng 05 phút 16 giây, thời gian bắt đầu lúc 13 giờ 21 phút 43 giây ngày 10/6/2025 thời gian kết thúc lúc 13 giờ 26 phút 48 giây ngày 10/6/2025.

- 01 (một) con gà trống đá (loại gà tre) lông màu vàng-xám, trọng lượng 1.2kg. 01 (một) con gà trống đá (loại gà tre) lông màu trắng-xám, trọng lượng 1.4kg. Ngày 09/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả cho anh Ngô Tuấn K.

- 01 (một) xe và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 02 bánh hiệu FUTURE FI màu đỏ đen, biển số 63G1-106.92, số máy JC90E0247639, số khung: RLHJC7650NY112572. Qua xác minh xe mô tô 02 bánh hiệu FUTURE FI màu đỏ đen, biển số 63G1-106.92 do chị Lê Thị Hồng T đứng tên sở hữu, chị T cho bị cáo L sử dụng xe làm phương tiện đi lại và không biết bị cáo L sử dụng xe đi trộm cắp tài sản. Ngày 20/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị T xong.

- 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đỏ-đen, trên ngực trái có ghi chữ “MANCHESTER CITY” ở giữa ngực có ghi chữ “ERIHAD AIRWAYS”, trên tay phải có ghi chữ “Premier Pleague”. 01 (một) cái quần bằng vải màu đen (loại quần nam). Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Đồng Tháp đã ra Quyết định chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Đồng Tháp quản lý chờ xử lý.

* Về giải quyết trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Tuấn K đã nhận lại tài sản mất trộm và không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự hoặc yêu cầu gì khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2025/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

[1] Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 32, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/7/2025.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Đã trao trả cho bị hại. Không đặt ra giải quyết

[3] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy:

01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đỏ - đen, trên ngực trái có ghi chữ “MANCHESTER CITY” ở giữa ngực có ghi chữ “ERIHAD AIRWAYS”, trên tay phải có ghi chữ “Premier Pleague”.

01 (một) cái quần bằng vải màu đen (loại quần nam).

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/9/2025).

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn L với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn LinhNguyễn Công V; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 53/2025/HS-ST ngày 26/9/2025 của TAND Khu vực 3 - Đồng Tháp.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; Qua lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 10/6/2025 tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp) bị cáo Nguyễn Văn L có hành vi lén lút trộm 02 con gà trống của anh Ngô Tuấn K, trị giá tài sản chiếm đoạt qua định giá của cơ quan có thẩm quyền là 260.000 (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Tuy tài sản chiếm đoạt chưa đến 2.000.000 đồng nhưng bị cáo Nguyễn Văn L có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến tình hình trật tự và an toàn xã hội ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Lúc bị cáo phạm tội có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo có ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện, lợi dụng sự mất cảnh giác của bị hại để bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đây là hành vi cố ý muốn thực hiện tội phạm nên có sự chuẩn bị, mục đích vụ lợi cá nhân, bị cáo từng bị Tòa án xét xử 02 lần về hành vi trộm cắp, chưa được xóa án tích, chỉ trong thời gian ngắn lại tiếp tục phạm tội, bị cáo có đủ nhận thức được hành vi của mình, nhưng cố ý thực hiện, đều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật, những lần phạm tội trước bị cáo bị xử phạt nhưng chưa đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Nên Hội đồng xét xử cần tuyên mức án nghiêm khắc, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung, đấu tranh ngăn chặn việc phát sinh tội phạm này. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Ngư i nào trộm cắp tài sản của ngư i khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trư ng h p sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

……

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa đư c xóa án tích mà còn vi phạm”

….

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, lần phạm tội này là lần thứ 3, đều đó cho thấy thái độ bị cáo coi thường pháp luật, xem việc trộm cắp như nghề nghiệp của bị cáo, mặc dù có tiền án về hành vi trộm cắp và đã bị xử phạt nhưng vẫn không hối cải, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội. Nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[5] Đồng phạm: Trong vụ án này có đồng phạm, Nguyễn Văn T1 có hành vi rủ rê, lôi kéo, cảnh giới cho bị cáo L thực hiện trộm cắp. Tuy nhiên, giá trị tài sản trộm cắp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm do Nguyễn Văn T1 chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ chuyển hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T1.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Tuấn K đã nhận lại tài sản mất trộm và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng:

- Đối với 01 (một) đĩa DVD có chứa 01 (một) đoạn camera quay hành vi trộm cắp nên lưu hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) xe và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 02 bánh hiệu FUTURE FI màu đỏ đen, biển số 63G1-106.92, số máy JC90E0247639, số khung: RLHJC7650NY112572, xe do chị Lê Thị Hồng T đứng tên sở hữu, chị T cho bị cáo L sử dụng xe làm phương tiện đi lại và không biết bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đỏ-đen, trên ngực trái có ghi chữ “MANCHESTER CITY” ở giữa ngực có ghi chữ “ERIHAD AIRWAYS”, trên tay phải có ghi chữ “Premier Pleague”. 01 (một) cái quần bằng vải màu đen (loại quần nam) bị cáo L mặc đi thực hiện hành vi trộm cắp, hiện không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét kháng cáo của bị cáo L là không có căn cứ chấp nhận.

[9] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát Tỉnh tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

[10] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[11] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

2. Căn cứ Điều 17, Điều 32, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/7/2025.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

N i nh n:

Cỡ chữ