- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị Thuý H - Huỳnh Văn D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Thuý H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST Ngày 19/01/2026. V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Quy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Tuấn
2. Ông Trần Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc - Thư ký Tòa án khu vực 9 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau xét xử công khai vụ án thụ lý số: 168/2025/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Thuý H, sinh ngày 01/01/1996. Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Ấp GC B, xã AN, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn D, sinh ngày 16/6/1995. Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Ấp NT1, xã HD, tỉnh Cà Mau.
(Chị H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh D vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và tại biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2025 nguyên đơn chị Lâm Thị Thuý H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NH, xã HD, tỉnh Bạc Liêu vào năm 2019. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay nhưng không hàn gắn lại được. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn D.
Về quan hệ con chung: Chị H xác định trong quá trình chung sống giữa chị và anh D có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Trâm E, sinh ngày 07/7/2020, hiện tại cháu Trâm Em đang sống chung với chị H. Chị H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Huỳnh Thị Trâm E và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định giữa chị và anh D không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, chị H không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Huỳnh Văn D: Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý cho anh D. Đến khi Toà án giao Thông báo họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hoà giải và giấy triệu tập cho anh thì anh từ chối nhận và anh D không đồng ý cho Toà án có tiến hành lấy lời khai đối với anh nên Toà án không thể không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh D.
Mặc khác, Toà án có tiếp tục tiến hành đến nhà anh Huỳnh Văn D để giao những văn bản tố tụng tiếp theo cho anh D nhưng anh D không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao các văn bản tố tụng cho anh D. Vì vậy, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định pháp luật do anh Huỳnh Văn D không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phương cũng xác định, anh Huỳnh Văn D vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp NT1, xã HD, tỉnh Cà Mau và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh Huỳnh Văn D có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại khoản 15, khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Thuý H được ly hôn anh Huỳnh Văn D;
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Thị Trâm E, sinh ngày 07/7/2020 cho chị Lâm Thị Thuý H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở;
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Chị Lâm Thị Thuý H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn D và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Huỳnh Văn D có nơi đăng ký thường trú tại ấp NT1, xã HD, tỉnh Cà Mau nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn chị Lâm Thị Thuý H tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Lâm Thị Thuý H. Bị đơn anh Huỳnh Văn D vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh D.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NH, xã HD, tỉnh Bạc Liêu vào năm 2019 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị H xác định giữa chị và anh D có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị H không thể hàn gắn với anh D được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Nay chị H nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh D. Còn anh D khi được Toà án triệu tập đến hoà giải thì anh D lại từ chối nhận và không đến Toà án, không đồng ý cho Toà án tiến hành lấy lời khai, điều đó cho thấy mâu thẩu giữa chị H và anh D đã trầm trọng và không thể hàn gắn với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết chị H và anh D đã không còn sống chung với nhau khoảng hơn 01 năm nay. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho chị Lâm Thị Thuý H được ly hôn anh Huỳnh Văn D.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị H xác định giữa chị và anh D có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Trâm E, sinh ngày 07/7/2020 đang sống chung với chị H. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Huỳnh Thị Trâm E, sinh ngày 07/7/2020 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Trâm Em hiện đang sống với chị H, cháu đã có môi trường và cuộc sống ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Huỳnh Thị Trâm E, sinh ngày 07/7/2020 cho chị Lâm Thị Thuý H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết. Anh D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cáo về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Thuý H.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Thuý H được ly hôn anh Huỳnh Văn D.
2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Thị Trâm E, sinh ngày 07/7/2020 cho chị Lâm Thị Thuý H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Thị Thuý H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lâm Thị Thuý H phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị H đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0001569, ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nay chuyển thu án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Khu vực 9 – Cà Mau; - Thi hành án Dân sự tỉnh Cà Mau; - UBND xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau; - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Quách Văn Quy |