- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim A. Chị Lê Kim A được ly hôn với anh Nguyễn Trường Gi.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG THÁP TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28/01/2026 V/v Tranh chấp về HNGĐ - Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG THÁP, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Cẩm Hừng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phú Hữu;
2. Ông Nguyễn Hồng Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thanh Nguyên- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Kim A, sinh ngày 08/01/2004.
Địa chỉ: Số 185, đường NCT, Tổ 10, Khóm B, Phường MN, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trường Gi, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Số 353, Khóm ĐB, Phường C, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị Lê Kim A có mặt, anh Nguyễn Trường Gi vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Lê Kim A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Kim A và anh Nguyễn Trường Gi kết hôn vào năm 2024, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 4, thành phố Cao Lãnh (nay là UBND Phường Cao Lãnh) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 25/4/2024.
Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2025 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Gi thường xuyên chơi bời không tạo ra thu nhập lo cho gia đình. Chị Lê Kim A đã nhiều lần khuyên nhủ và cũng nhờ gia đình hai bên can thiệp nhưng anh Gi vẫn không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2025 cho đến nay.
Nay chị Lê Kim A nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trường Gi.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trường Ph, sinh ngày 02/10/2022. Hiện nay con chung đang sống với chị Lê Kim A. Sau khi ly hôn, chị Lê Kim A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Trường Gi: Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Gi nhưng anh Gi không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến vụ án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Lê Kim A yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trường Gi, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ngoài ra nguyên đơn, bị đơn không còn yêu cầu nào khác nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con”.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Trường Gi là bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú tại Số 353, Khóm ĐB, Phường C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Trường Gi nhưng anh Nguyễn Trường Gi vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Kim A và anh Nguyễn Trường Gi kết hôn vào năm 2024, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 4, thành phố Cao Lãnh (nay là UBND Phường Cao Lãnh) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 25/4/2024 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời chị Lê Kim A trình bày, trong quá trình chị Kim A và anh Gi chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Gi thường xuyên chơi bời không tạo ra thu nhập lo cho gia đình. Chị Kim A đã nhiều lần khuyên nhủ và cũng nhờ gia đình hai bên can thiệp nhưng anh Gi vẫn không thay đổi.
Hội đồng xét xử nhận định, trong quá trình chung sống, chị Lê Kim A và anh Nguyễn Trường Gi phát sinh mâu thuẫn là có thật và vợ chồng anh chị đã không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2025 cho đến nay. Thời gian xa nhau, anh chị không thể hàn gắn lại tình cảm. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Kim A xác định đã không còn tình cảm với anh Gi. Về phía anh Gi, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Gi nhưng đến nay anh vẫn không đến Tòa án trình bày ý kiến hay có văn bản thể hiện phản đối yêu cầu ly hôn của chị Lê Kim A và anh cũng không có hành động nào thể hiện ý muốn hàn gắn tình cảm với chị Kim A. Do mâu thuẫn giữa chị Kim A và anh Gi đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Kim A, chị Lê Kim A được ly hôn với anh Nguyễn Trường Gi.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trường Ph, sinh ngày 02/10/2022. Hiện nay con chung đang sống với chị Lê Kim A. Sau khi ly hôn, chị Kim A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy, con chung còn nhỏ tuổi và hiện đang sống chung với chị Kim A, do chị Kim A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Yêu cầu của chị Kim A về việc được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Kim A không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Lê Kim A xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị Lê Kim A xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Kim A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Trường Gi không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim A. Chị Lê Kim A được ly hôn với anh Nguyễn Trường Gi.
2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trường Ph, sinh ngày 02/10/2022. Hiện nay con chung đang sống với chị Lê Kim A.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim A. Sau khi ly hôn, chị Lê Kim A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trường Ph, sinh ngày 02/10/2022.
Sau khi ly hôn, người không được quyền nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp người không được quyền nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được quyền nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không được quyền nuôi con chung.
Người được quyền nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không được quyền nuôi con chung trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét
4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Lê Kim A phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009362 ngày 28/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị Lê Kim A đã nộp xong.
Anh Nguyễn Trường Gi không phải chịu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Kim A được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trường Gi được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKS KV6-ĐT; - Toà án Tỉnh; - Các đương sự; - Lưu: HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đoàn Thị Cẩm Hừng |