- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hương - Ngọc"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thu Hương được ly hôn anh Nguyễn Tiến Ngọc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2026/HNGĐ- ST Ngày 28 tháng 01 năm 2026 V/v Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sửu và bà Trần Thị Kim Khuyên.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 11-Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Phùng Đức Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2025/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1999 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Sơn Cầu, xã Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ.
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến Ng, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Xóm Làng Chiềng, xã Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện nay đang công tác tại phân trại 4, trại giam Vĩnh Quang (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 22/10/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thu H trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Tiến Ng ngày 24/01/2025. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ). Sau khi cưới chị vẫn ở tại nhà bố mẹ đẻ, không về ở cùng gia đình anh Ngọc ngày nào. Anh Ngọc thỉnh thoảng đến ở nhà bố mẹ chị. Tình cảm vợ chồng chỉ hòa thuận thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Ngọc chơi bời không quan tâm đến chị, vợ chồng không có tiếng nói chung. Ngày 10/10/2025 chị Hương và anh Ngọc đã nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và văn bản lựa chọn Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ giải quyết việc ly hôn nhưng sau đó anh Ngọc không đến Tòa làm việc. Đến nay chị Hương xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Tiến Ngọc.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Tuệ Anh, sinh ngày 12/8/2025, hiện nay đang ở cùng chị Hương. Ly hôn chị Hương xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh Ngọc cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Hương không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Tiến Ngọc vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai ngày 09/12/2025 anh Nguyễn Tiến Ngọc trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thu Hương ngày 24/01/2025. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ). Sau khi cưới chị Hương không về làm dâu gia đình anh. Thỉnh thoảng anh đến ở nhà bố mẹ chị Hương còn chủ yếu anh ở cơ quan. Tình cảm vợ chồng chỉ hòa thuận thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau hay nảy sinh cãi nhau, vợ chồng không đồng quan điểm, anh Ngọc và chị Hương đã nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và văn bản lựa chọn Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ giải quyết việc ly hôn nhưng do anh bận công việc nên anh không đến Tòa làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Đến nay anh Ngọc xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Hương đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh nhất trí và có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Tuệ Anh, sinh ngày 12/8/2025, hiện nay đang ở cùng chị Hương. Ly hôn chị Hương xin được nuôi con anh nhất trí.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Anh Ngọc không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ, bị đơn không chấp hành đầy đủ về quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hương. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Hương trực tiếp nuôi con, chị Hương không yêu cầu anh Ngọc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Hương, anh Ngọc không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí chị Hương phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Nguyễn Thu Hương khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với anh Nguyễn Tiến Ngọc. Chị Hương và anh Ngọc có văn bản thỏa thuận đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ là nơi có địa chỉ của bị đơn giải quyết vụ án. Do vậy tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11-Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Ngày 22/10/2025 chị Nguyễn Thu Hương có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Tiến Ngọc. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tố tụng: Anh Ngọc vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngọc theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thu Hương và anh Nguyễn Tiến Ngọc là tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tiến bộ. Về tình cảm: Sau khi kết hôn chị Hương, anh Ngọc chỉ có thời gian ngắn hòa thuận, hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau hay nảy sinh cãi nhau, vợ chồng không đồng quan điểm. Chị Hương và anh Ngọc đã nộp đơn yêu cầu công nhận thuạn tình ly hôn nhưng sau đó anh Ngọc lại không đến Tòa án làm việc. Chị Hương sau khi kết hôn lại không về gia đình anh Ngọc ở. Đến nay cả chị Hương và anh Ngọc đều xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn. Như vậy mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị Hương xin ly hôn là có căn cứ, vì vậy cần áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thu Hương được ly hôn anh Nguyễn Tiến Ngọc.
Về con chung: Xét đề nghị của chị Hương, anh Ngọc, Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay cháu Nguyễn Tuệ Anh đang ở cùng chị Hương, cháu mới hơn 05 tháng tuổi vẫn đang còn bú mẹ, anh Ngọc, chị Hương thống nhất thỏa thuận để chị Hương tiếp tục nuôi con là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử xử chấp nhận giao cho chị Hương được tiếp tục nuôi con. Chị Hương tự nguyện không yêu cầu anh Ngọc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Hương, anh Ngọc không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thu Hương phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thu Hương được ly hôn anh Nguyễn Tiến Ngọc.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thu Hương trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Tuệ Anh, sinh ngày 12/8/2025 cho đến khi thành niên đủ 18 tuổi lao động tự túc được (hiện nay cháu Anh đang ở cùng chị Hương). Anh Ngọc không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hương. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Hương, anh Ngọc không đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thu Hương phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E số 0004239 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị Hương đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Hương có mặt có quyền kháng cáo bản án; anh Ngọc vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ; - Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ; - Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Tam Sơn (để vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ, Văn phòng. HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Tiến Sửu – Trần Thị Kim Khuyên Đức được Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý đăng ký kết hôn ngày 27/10/2021, sau ngày cưới chị Lan về làm dâu gia đình anh Đức, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xẩy ra va chạm, hiện nay không thấy chị Lan ở gia đình anh Đức. Anh Đức hiện nay vẫn sinh sống và làm việc tại thôn Tân Lập, xã Hợp Lý. Nay chị Lan xin ly hôn anh Đức đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý: Việc kết hôn giữa chị Lan và anh |