vanban.org

Bản án 06/2026/HC-ST — Hành chính

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N.

Hủy thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN, ngày 12/5/2026 thông báo và hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 và chuyển nhượng sang bà Vũ Thị N. Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực H, tỉnh Lâm Đồng thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc đăng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Vũ Thị N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 30 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…
TAND TỈNH LÂM ĐỒNG
TAND KHU VỰC 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HC-ST
Ngày: 28-7-2026
V/v khiếu kiện quyết định hành chính,
trong lĩnh vực quản lý đất đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Phương

2/ Ông Hoàng Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh khu vực 11- Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 45/2026/TLST- HC ngày 15 tháng 06 năm 2026, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai. Khiếu kiện buộc thực hiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HC ngày 06/07/2026, của Tòa án nhân dân khu vực 11- Lâm Đồng; giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Vũ Thị N, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Đ, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện theo uỷ quyền: Nguyễn Minh T – sinh năm: 1985

Địa chỉ: khu phố C; phường P, tỉnh Lâm Đồng.

Người bị kiện:

Chi nhánh V đăng ký đất đai khu vực H.

Địa chỉ: số C T, xã H, tỉnh Lâm Đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân xã T;

Địa chỉ: C T, xã T, tỉnh Lâm Đồng.

- Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1988

- Ông Đoàn Văn T1, sinh năm 1988

Địa chỉ: tổ D thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa có mặt đại diện theo ủy quyền người khởi kiện. Vắng mặt những người tham gia tố tụng khác có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:

Bà Vũ Thị N có quyền sử dụng thửa đất số 874, tờ bản đồ số 09, diện tích 120,9m2 trong đó đất ở tại nông thôn 74,7m2, đất trồng cây lâu năm 46,2m2 tại thôn T, xã T, thành phố P (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 797032 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 02/02/2016, cập nhật biến động ngày 22/4/2026 thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Văn T1, bà Hoàng Thị H và bà Vũ Thị N đã được công chứng, chứng thực theo đúng quy định.

Sau khi hoàn tất việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng, bà N nộp hồ sơ tại Bộ phận một cửa của Chi nhánh Văn phòng Đ khu vực H để đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên.

Ngày 12/5/2026, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐ KVHT. Lý do hoàn trả hồ sơ trong đó nêu nội dung như sau: “thửa đất số 847, tờ bản đồ số 9, diện tích 120,9m2, mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn (74,7m2), đất trồng cây lâu năm (46,2m2). Địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận số CC 797032 ngày 02/02/2016. Qua kiểm tra, thửa đất có 74,7m2 đất ở tại nông thôn có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (đất trồng lúa) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”. Vì lý do nêu trên, Chi nhánh Văn phòng Đ khu vực H đã hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Vũ Thị N.

Căn cứ quy định của pháp luật, việc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch dân sự có hiệu lực. Tại thời điểm ông Đoàn Văn T1, bà Hoàng Thị H chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 797032 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/02/2016, cập nhật biến động ngày 22/4/2026 chưa có bất kỳ quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nào về việc cấm thực hiện chuyển quyền sử dụng đất và cũng chưa có quyết định hủy bỏ hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa tôi và ông Đoàn Văn T1, bà Hoàng Thị H là giao dịch dân sự đã có hiệu lực. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực H ban hành Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐ KVHT ngày 12/5/2026 và hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của tôi là trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của tôi theo quy định tại Điều 167 Luật đất đai.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên bà Vũ Thị N yêu cầu tòa án giải quyết:

Hủy Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐ KVHT ngày 12/5/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Vũ Thị N;

Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định pháp luật về việc đăng ký chuyển quyền sử dụng đất cho bà Vũ Thị N trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 797032 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/02/2016, cập nhật biến động ngày 22/4/2026.

- Người bị kiện – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực H – Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp có ý kiến:

+ Thửa đất của bà Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 thực hiện nhượng cho bà Vũ Thị N, thuộc thửa đất số 874, tờ bản đồ số 9, diện tích 120.9 m2,(đất ở nông thôn là 74.7 m2; đất trồng cây lâu năm là 46.2 m2), địa chỉ thửa đất thuộc thôn T, xã T, thành phố P, theo Giấy chứng nhận số CC 797032, cấp ngày 02/02/2016, người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận tên Hoàng Thị H ; Qua kiểm tra, phần diện tích ở nông thôn của Giấy chứng nhận số CI 309578 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp quy hoạch (Đất trồng lúa ) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT, về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: “...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T.”

Ngày 24/5/2024, UBND thành phố P có Công văn số 290/TB-UBND thông báo về việc có ý kiến kết luận của Phó Chủ tịch UBND thành phố - Lê Thanh S tại cuộc họp chiều ngày 08/5/2024, đề xuất phương án xử lý các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B có nêu: “...Giao Phòng T2 chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan và UBND phường, xã khẩn trương, tổng hợp tham mưu UBND thành phố báo cáo kiến nghị UBND tỉnh xem xét chỉ đạo tiếp theo...”.

Căn cứ các công văn nêu trên của UBND tỉnh B và UBND thành phố P, các cơ quan liên quan đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực H sẽ thông báo lại cho bà Vũ Thị N được biết và cùng phối hợp thực hiện.

Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực H, ban hành Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN, ngày 12/5/2026 thông báo và hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 và chuyển nhượng sang bà Vũ Thị N.

Nên không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T:

Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Không có ý kiến gì trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 trình bày:

Bà Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 là vợ chồng với nhau. Vợ chồng ông bà có tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 874, tờ bản đồ số 09, diện tích 120,9m2 trong đó đất ở tại nông thôn 74,7m2, đất trồng cây lâu năm 46,2m2 tại thôn T, xã T, thành phố P (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 797032 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 02/02/2016, cập nhật biến động ngày 22/4/2026 thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Vũ Thị N đã được công chứng, chứng thực theo đúng quy định. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đúng quy định pháp luật. Ông bà không có ý kiến gì về việc bà Vũ Thị N nộp đơn khởi kiện và xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Toà án và đề nghị Toà án tiền hành xét xử vắng mặt chúng tôi.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành mở phiên họp đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nhưng không thành. Do vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị:

1. Tuyên hủy Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN ngày 12/5/2026 “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà Vũ Thị N.

2. Buộc Chi nhánh văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất theo quy định.

Người bị kiện: vắng mặt tại phiên toà.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; Người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Về nội dung vụ án:

Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng căn cứ các Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 131, điểm b khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024 đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện bà Vũ Thị N.

Hủy thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN ngày 12/5/2026 “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà Vũ Thị N.

Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực H, tỉnh Lâm Đồng thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật.

Người bị kiện phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 348 Luật tố tụng hành chính và khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 3262016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Người khởi kiện yêu cầu:

Xét thấy, bà Vũ Thị N khởi kiện yêu cầu hủy công văn Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN ngày 12/5/2026 “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà Vũ Thị N có nội dung điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Lâm Đồng.

Về người tham gia tố tụng và xét xử vắng mặt: Người bị kiện, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 168 Luật tố tụng hành chính; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật.

Về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính: Chi nhánh Văn phòng Đ có Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN ngày 12/5/2026 “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà Vũ Thị N; Ngày 27/5/2026, bà Vũ Thị N có đơn khởi kiện, do đó việc khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án được đảm bảo theo quy định tại Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.

Xét yêu cầu của người khởi kiện:

Người khởi kiện đề nghị hủy Công văn số Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN ngày 12/5/2026 “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà Vũ Thị N, Hội đồng xét xử nhận định:

Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Nhưng xuyên suốt quá trình hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 năm 2016 thuộc thửa đất số 874, tờ bản đồ số 9, diện tích 120.9 m2,(đất ở nông thôn là 74.7 m2; đất trồng cây lâu năm là 46.2 m2), địa chỉ thửa đất thuộc thôn T, xã T, thành phố P, theo Giấy chứng nhận số CC 797032, cấp ngày 02/02/2016, người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận tên Hoàng Thị H. Đây là sai sót của cơ quan hành chính nhà nước, lý ra sau khi nhận thấy đây là sai sót thì cơ quan hành chính nhà nước cụ thể là UBND thành phố P phải ra các quyết định, về thu hồi các Quyết định, hay cấm chuyển nhượng để đảm bảo các quyền của những chủ thể khác khi giao dịch dân sự với diện tích đất trên. Nhưng UBND thành phố P không có sự điều chỉnh nào hợp lý, đây là sai sót của UBND thành phố P, dẫn đến việc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực H không cập nhật biến động làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà Vũ Thị N. Khi bà Vũ Thị N đã thực hiện đầy đủ các quyền về chuyển nhượng quyền sử dụng đất do pháp luật quy định.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 thì: Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có giấy chứng nhận QSDĐ; đất không tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực H ban hành Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN, ngày 12/5/2026 thông báo và hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 và chuyển nhượng sang bà Vũ Thị N, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Vũ Thị N. Chính vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy Thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN, ngày 12/5/2026 thông báo và hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 và chuyển nhượng sang bà Vũ Thị N của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực H. Để Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao theo quy định của pháp luật.

Như ý kiến của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ.

Do yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N được chấp nhận nên bà N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; bà N thuộc trường hợp miễn án phí, lệ phí Tòa án. Người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;

Khoản 7 Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 99, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 131, điểm b khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024

Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;

Căn cứ Nghị Quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

- Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N.

Hủy thông báo số 337/TB-CNVPĐKĐĐKVHTN, ngày 12/5/2026 thông báo và hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 và chuyển nhượng sang bà Vũ Thị N.

Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực H, tỉnh Lâm Đồng thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Hoàng Thị H và ông Đoàn Văn T1 và chuyển nhượng sang bà Vũ Thị N theo quy định của pháp luật.

2.Về án phí: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực H, tỉnh Lâm Đồng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo, thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ