vanban.org

Bản án 06/2026/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/01/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/01/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 78/2025/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 - C, tỉnh Cà Mau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Trần Văn T-Hồ Hoàng T"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/DS-PT
Ngày 07 - 01 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán:

Bà Châu Minh Nguyệt

Ông Lê Phan Công Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà

Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ

Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử

phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 433/2025/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 78/2025/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của

Toà án nhân dân Khu vực 4 - Cbị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 476/2025/QĐ-PT ngày

14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1971; CCCD số xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T: Ông Đặng Hữu T, sinh

năm 1968; Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Hồ Hoàng T, sinh năm 1978; CCCD số xxxxxxxxxxxx (có mặt)

2. Bà Đặng Hồng D, sinh năm 1978; CCCD số xxxxxxxxxxxx (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Nam Chánh, xã Thanh Tùng, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Hồ Hoàng T, bà Đặng Hồng D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Hữu Thọ trình bày:

Vào ngày 29/3/2022 al ông T có bán tôm giống cho ông T và bà D với số lượng

600.000 x 110 đồng/con = 66.000.000 đồng. Đến ngày 22/5/2022 al ông T tiếp tục bán tôm giống ông T và bà D với số lượng 300.000 x 110 đồng/con = 33.000.000 đồng. Tổng hai lần mua tôm giống ông T và bà D thiếu ông T là 99.000.000 đồng. Nay ông Thọ là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu ông T và bà D cùng có trách nhiệm trả cho ông T số tiền 99.000.000 đồng.

Đối với bị đơn ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D: Quá trình Toà án triệu tập

ông T và bà D vắng mặt không lý do.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 78/2025/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của

Toà án nhân dân Khu vực 4 – C đã Quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T. Buộc ông Hồ Hoàng T và

bà Đặng Hồng D có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn T số tiền 99.000.000 đồng (chín mươi chín triệu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền

kháng cáo theo luật định.

Ngày 16/9/2025 ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D kháng cáo với nội dung

không đồng ý thanh toán cho ông Trần Văn T số tiền 66.000.000 đồng vì ông Huỳnh Thanh Út nợ ông Trần Văn T, ông T chỉ là trung gian.

Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm,

Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận

kháng cáo của ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh

luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, phần tranh luận;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D vẫn giữ

nguyên nội dung kháng cáo. Ông T và bà D đều thừa nhận có nợ ông T 33.000.000 đồng, đối với số tiền 66.000.000 đồng ông T , bà D không có liên quan, tôm là do ông Huỳnh Thanh Út mua và ông Út đồng ý thanh toán cho ông T.

Xét kháng cáo của ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D: Ông T và bà D

đều cho rằng ông T không trực tiếp mua tôm của ông T mà do ông Huỳnh Thanh Út mua và thả vào vuông của ông Út, không có việc ông T hùn nuôi tôm với ông Út. Tuy nhiên ông T xác nhận quá trình trao đổi mua tôm là do ông T trao đổi mua tôm với ông T qua điện thoại, ông T và ông Út không quen biết nhau. Như vậy, ông T là người trực tiếp giao dịch với ông T, ông T cũng không quen biết ông Út và ông T giao tôm là theo yêu cầu của ông T nên ông T phải có trách nhiệm thanh toán tiền tôm còn thiếu cho ông T với số tiền là 66.000.000 đồng.

Đối với vấn đề ông T cung cấp giấy thoả thuận giữa bà D và ông Út vào

ngày 25/12/2025 với nội dung “Khoản nợ 66.000.000 đ (bằng chữ: sáu mươi sáu triệu đồng) là khoản tiền ông Huỳnh Thanh Út nợ ông Trần Văn T tôi chỉ là trung gian nên tôi không chi trả chho ông T mà sẽ do ông Huỳnh Thanh Út trả”. Đề nghị buộc ông Út thanh toán tiền cho ông T. Tại phiên tòa, đại diện ông T không thống nhất vì không biết ông Út là ai và cũng không trực tiếp giao dịch mua bán với ông Út. Lời trình bày của phía ông T có căn cứ được chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng

cáo của ông Hồ Hoàng T, bà Đặng Hồng D; giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau. Như phân tích trên, đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ được chấp nhận.

Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Hồ

Hoàng T, bà Đặng Hồng D phải chịu án phí mỗi người là 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị Quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D. Giữ

nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 78/2025/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 - C, tỉnh Cà Mau.

2. Căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng

dân sự; các điều 357, Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T. Buộc ông Hồ Hoàng T và

bà Đặng Hồng D có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn T số tiền 99.000.000 đồng (chín mươi chín triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Văn T cho đến khi thi

hành xong khoản tiền trên, hàng tháng ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí:

3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T không phải chịu, hoàn trả lại ông

Trần Văn T 2.476.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 001308 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – C).

Ông Hồ Hoàng T và Đặng Hồng D phải chịu 4.950.000 đồng (bốn triệu chín

trăm năm mươi nghìn đồng).

3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Hồ Hoàng T và bà Đặng Hồng D

mỗi người phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Đã dự nộp theo lai thu số 0000323, 0000324 ngày 16/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ