- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Nguyễn Hoàng Phương - Trung tâm Ứng phó sự cố môi trường Việt Nam (SOS)"
- Tòa quyết gì? và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 13 Bộ luật Lao động; Điều 14 Bộ luật Lao động; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/LĐ-PT Ngày: 21/01/2025 V/v Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Bà Phạm Thị Thanh Trúc
tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thoa
Ông Bùi Hữu Nhân
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lưu
Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Thiêm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh x t x phúc th m c ng khai vụ án lao động thụ lý số 90/2024/TLPT-LĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ th m số 43/2024/LĐ-ST ngày 24 tháng 9 năm
2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra x t x phúc th m số 6613/2024/QĐ-PT
ngày 16 tháng 12 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc th m số 848/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: 1 đường H, khu phố F, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí
Minh.
2. Bị đơn: Trung tâm Ứ.
Trụ sở: Phòng 203, nhà A5, làng Q, đường T, phường D, quận C, thành
phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Tăng Chí P1, sinh năm 1974 (có mặt);
Địa chỉ: A ngõ A, đường L, phường B, quận T, thành phố Hà Nội.
- Ông Phạm Duy T, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: A đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người kháng cáo: Trung tâm Ứ - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ theo đơn khởi kiện, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, nội dung các
bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng P trình bày:
Ngày 28/4/2022, Trung tâm Ứ (sau đây gọi là Trung tâm hoặc bị đơn) có
Thư mời hợp tác, nhận ông Nguyễn Hoàng P (sau đây gọi là ông P hoặc nguyên đơn) vào làm việc với vị trí thuyền trưởng, bắt đầu th việc 02 tháng (kể từ ngày 03/5/2022), mức lương 85% bằng 12.000.000 đồng/tháng.
Ngày 05/7/2022, ông P và Trung tâm ký hợp đồng lao động số
21/2022/HĐLĐ-TTSOS, thời hạn 02 năm, địa điểm làm việc tại Trung tâm Ứ - Văn phòng đại diện tại khu vực M, địa chỉ: A B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; bộ phận c ng tác: Văn phòng đại diện tại khu vực M; vị trí công tác: Thuyền trưởng, mức lương 12.000.000 đồng/tháng và các khoản tiền khác, không cố định.
Trong thời gian làm việc, ông P luôn chấp hành đúng nội quy của Trung
tâm, hoàn thành tốt công việc được giao. Ngày 07/3/2023, do bị bệnh nên ông xin phép cấp trên là ông Lê Quang P2 và nhân sự Trung tâm là ông Phạm Duy T để chữa bệnh từ ngày 07/3/2023 đến ngày 13/3/2023. Ông P2 và ông T đồng ý. Từ ngày 13/3/2023, bệnh tình của ông P chưa giảm nên ông có gọi zalo cho ông P2 xin nghỉ hết tháng 3/2023 kh ng hưởng lương, ng P2 đồng ý và có nói để báo cho ông T biết. Ngày 31/3/2023 ông T gọi mời ông P lên làm việc. Ông T báo cho ông P biết do sức khoẻ của ông P kh ng đảm bảo, tuổi già sức yếu nên Trung tâm không cho ông P tiếp tục làm việc nữa và chấm dứt hợp đồng lao động với ông P.
Ngày 31/3/2023, Trung tâm ra Quyết định số 13/2023/QĐ-TTSOS (sau
đây gọi tắt là Quyết định số 13) do giám đốc Phạm Văn S ký chấm dứt hợp đồng lao động số 21/2022/HĐLĐ-TTSOS với ông P. Đồng thời, Trung tâm trả lương cho ông P hết tháng 3/2023 nhưng ngưng đóng bảo hiểm xã hội cho ông từ tháng 02/2023. Quyết định số 13 căn cứ vào đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động của ông P nhưng thực tế ông P không nộp đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động. Đây là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, ảnh hưởng đến cuộc sống và thu nhập của ông.
Ngoài ra, ông P ký hợp đồng và bắt đầu làm việc tại Trung Tâm vào ngày
05/7/2022 nhưng kh ng được đóng bảo hiểm xã hội tháng 7/2022, đồng thời Trung tâm cũng chưa đóng bảo hiểm xã hội cho ông P trong tháng 3/2023, trong khi tháng 3/2023 ông P bị trừ tiền bảo hiểm xã hội từ tiền lương được nhận.
Nhận thấy quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nguyên đơn yêu cầu:
Huỷ Quyết định số 13, buộc bị đơn:
- Bồi thường 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động do đơn phương
chấm dứt trái pháp luật: 12.000.000đ/tháng x 02 tháng = 24.000.000 đồng.
- Bồi thường tiền lương những ngày kh ng được làm việc, tính từ ngày
31/3/2023 đến ngày x t x sơ th m: 12.000.000đ x 10 tháng (tạm tính) = 120.000.000 đồng.
- Nhận nguyên đơn trở lại làm việc, trường hợp bị đơn kh ng nhận
nguyên đơn trở lại làm việc thì bồi thường 02 tháng tiền lương là 12.000.000đ x 02 tháng = 24.000.000 đồng.
- Buộc bị đơn đóng các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp những ngày nguyên đơn kh ng được làm việc, tính từ ngày 31/3/2023 đến ngày x t x sơ th m, với mức lương tham gia bảo hiểm xã hội là: 5.500.000 đồng: 21.5% x 5.500.000đ x 10 tháng = 11.825.000 đồng.
- Buộc bị đơn trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng
trong những ngày kh ng báo trước khi Trung tâm vi phạm về thời hạn báo trước: 01 tháng tiền lương (30 ngày) x 12.000.000 đồng.
Tổng cộng các khoản bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn (tạm tính)
là: 191.825.000 đồng.
Bị đơn Trung tâm Ứ do ông Phạm Duy T đại diện theo ủy quyền trình
bày:
Trung tâm xác nhận lời trình bày của ông P về những nội dung liên quan
đến hợp đồng th việc và hợp đồng lao động đã ký giữa hai bên là đúng. Trung tâm đã quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông P theo Quyết định số 13 dựa trên hợp đồng lao động, nội quy - quy định của Trung tâm và P3, đã th ng báo cho người lao động chấp thuận chứ kh ng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Cụ thể như sau:
- Căn cứ theo Bộ luật lao động năm 2019: Trong quá trình làm việc, ông P
đã thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động, đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người lao động”. Trung tâm có yêu cầu ông P thực hiện một số nhiệm vụ công tác tại các tỉnh, thành khác trong thời gian ngắn ngày (dưới 05 ngày) vào những khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 3/2023 nhưng ng P không tham gia hoặc tham gia nhưng yêu cầu về giữa chừng (khoảng 02 ngày) với lý do cá nhân là có nuôi động vật ở nhà kh ng đi được. Với các lần điều động sau, ông P có phản ứng xin nghỉ do ốm bệnh, đau lưng.
- Vào ngày 07/3/2023, ông P có nhắn tin zalo xin nghỉ từ ngày 07/3/2023
đến 13/3/2023 với lý do đi khám bệnh và điều trị. Tuy nhiên, trong thời gian này Văn phòng M không nhận được bất cứ giấy tờ liên quan đến việc khám và điều trị. Sau đó, ng P tiếp tục xin nghỉ từ ngày 14/3/2023 đến hết ngày 31/3/2023 thông qua việc nhắn tin zalo với lý do tiếp tục khám bệnh và điều trị. Văn phòng miền N đã yêu cầu ông Phương T1 giấy khám bệnh và giấy yêu cầu nghỉ điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có th m quyền nhưng ng P không phối hợp. Xét thấy trường hợp ông P kh ng được tiếp tục nghỉ, T2 đại diện Văn phòng M đã th ng báo cho ng P kh ng được nghỉ tiếp nhưng ng vẫn tự ý nghỉ làm k o dài hơn 05 ngày (từ ngày 14 đến ngày 18/3/2023), làm ảnh hưởng đến hoạt động chung. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019, ng P có hành vi tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên. Văn phòng miền N đã có văn bản báo cáo Trung tâm. Ngày 25/3/2023, Văn phòng M đã th ng báo cho ng P để buộc thôi việc. Đến ngày 03/4/2024 ông P đã lên Văn phòng và ký biên bản bàn giao lại trang thiết bị, vật tư đã được cấp phát trước đó.
- Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật lao động Khi đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 thì người s dụng lao động không phải báo trước cho người lao động”.
Từ các lý do trên, Trung tâm đã chấm dứt hợp đồng lao động với ông P
theo đúng quy định và kh ng đồng ý với các khoản bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của ông P đã nêu.
Tại Bản án lao động sơ th m số 43/2024/LĐ-ST ngày 24/9/2024 của Tòa
án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng P.
Chấm dứt hợp đồng lao động số 21/2022/HĐLĐ-TTSOS ngày 05/7/2022
giữa Trung tâm Ứ với ng Nguyễn Hoàng P.
Hủy bỏ Quyết định số 13/2023/QĐ-TTSOS ngày 31/3/2023 của Trung
tâm Ứ, về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Nguyễn Hoàng P.
Buộc Trung tâm Ứ có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng P
tổng số tiền 242.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu đồng). Trong đó:
- Bồi thường 02 tháng tiền lương do chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật là 12.000.000 x 02 tháng = 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
- Bồi thường tiền lương trong những ngày kh ng được làm việc từ
31/3/2023 đến ngày 05/7/2024 (ngày hết hạn hợp đồng) = 15 tháng 05 ngày = 12.000.000đ x 15 tháng 05 ngày = 182.0000.000 đồng (một trăm tám mươi hai triệu đồng).
- Bồi thường 01 tháng tiền lương tương ứng với hợp đồng do vi phạm thời
gian báo trước là 30 ngày = 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
- Bồi thường 02 tháng tiền lương do hai bên đồng ý chấm dứt hợp đồng là
02 tháng = 12.000.000đ x 2 = 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
Tổng cộng là: 242.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu đồng).
Việc thanh toán thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
Buộc bị đơn có nghĩa vụ tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và
bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn 02 tháng còn thiếu là: tháng 7/2022 và tháng 3/2023.
Buộc bị đơn và nguyên đơn phải tiếp tục tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 01/4/2023 đến ngày 05/7/2024 tính trên mức lương 12.000.000 đồng/tháng theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ th m còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và
nghĩa vụ của đương sự trong giai đoạn thi hành án, thời hạn thi hành án.
Ngày 14/10/2024, bị đơn nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án lao động sơ
th m, yêu cầu Tòa án cấp phúc th m hủy bản án sơ th m do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc th m, các đương sự kh ng thống nhất được cách giải
quyết toàn bộ vụ án.
Bị đơn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng x t x hủy bản án sơ
th m, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ th m x t x lại để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Nguyên đơn kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội
đồng x t x giữ nguyên bản án lao động sơ th m.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc th m:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng
th m quyền. Th m phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Có th ng báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án, quyết định x t x cùng hồ sơ vụ án chuyển Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng x t x , Thư ký Tòa án, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
và lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, x t thấy việc chấm dứt hợp đồng lao động của Trung tâm đối với ng P là trái pháp luật nên Toà án cấp sơ th m chấp nhận các yêu cầu của ng P buộc Trung tâm bồi thường 02 tháng tiền lương, bồi thường tiền lương những ngày kh ng được làm việc, bồi thường 01 tháng tiền lương do vi phạm thời gian báo trước, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ng P tháng 7/2022, tháng 3/2023 và từ ngày 01/4/2023 đến 05/7/2024 là có căn cứ. Tuy nhiên, hợp đồng lao động giữa hai bên đã chấm dứt từ ngày 05/7/2024 (trước thời điểm x t x sơ th m) nên việc Toà án cấp sơ th m buộc Trung tâm bồi thường thêm cho ng P 02 tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng lao động là kh ng phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 41 Bộ luật lao động nên có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng x t x s a một phần Bản án lao động sơ th m theo hướng đã phân tích như trên. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được th m
tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng x t x nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
. Đơn kháng cáo của bị đơn thực hiện trong thời hạn luật định nên
được Tòa án cấp phúc th m chấp nhận.
. Việc xác định th m quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án
của Tòa án cấp sơ th m phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn khởi kiện cho rằng bị đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động là việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc bị đơn thực hiện nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, Toà án sẽ xem x t, đánh giá chứng cứ để giải quyết có buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên kh ng cần thiết xác định thêm quan hệ pháp luật tranh chấp về bồi thường thiệt hại. Toà án cấp sơ th m cần rút kinh nghiệm.
. X t kháng cáo của bị đơn:
. Ngày 03/5/2022, ông P bắt đầu th việc tại Trung tâm với vị trí
thuyền trưởng, thời gian th việc 02 tháng (từ ngày 03/5/2022 đến hết ngày 03/7/2022). Đồng thời, ngày 13/5/2022, ng P có ký cam kết bảo mật th ng tin khi làm việc tại Trung tâm. Sau khi hết thời gian th việc, ngày 05/7/2022, hai bên ký hợp đồng lao động xác định thời hạn số 21/2022/HĐLĐ-TTSOS có nội dung: Ông P làm việc tại Trung tâm trong thời hạn 02 năm từ ngày 05/7/2022 đến ngày 05/7/2024 với vị trí thuyền trưởng, thực hiện các c ng việc được miêu tả tại Điều 6 của hợp đồng lao động, chế độ làm việc: 8 giờ/ngày, 6 ngày/tuần, nghỉ hàng tuần chiều thứ 7 và ngày chủ nhật, mức lương theo thỏa thuận.
. Tại phiên tòa phúc th m, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ
quyền của bị đơn cùng xác nhận hai bên thỏa thuận tiền lương khoán 8.000.000 đồng/tháng, mức lương đóng bảo hiểm 5.500.000 đồng/tháng, phụ cấp trách nhiệm 4.000.000 đồng/tháng, phụ cấp ứng cứu 1.000.000 đồng/tháng, phụ cấp điện thoại, THDT 300.000 đồng/tháng.
. Tại phiên tòa phúc th m, ng Phạm Duy T là người đại diện theo
ủy quyền của bị đơn xác nhận bị đơn có mặt và tham gia phiên tòa sơ th m ngày 12/9/2024. Tuy nhiên, phiên tòa này bị tạm ngừng. Bị đơn đã được Hội đồng x t x cấp sơ th m đọc Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 2356/2024/ QĐST-LĐ ngày 12/9/2024 và đã được th ng báo thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 24/9/2024. Do bị đơn kh ng nhận được Quyết định tạm ngừng phiên tòa nêu trên nên kh ng có mặt tại phiên tòa lúc 14 giờ 00 phút ngày 24/9/2024. Hội đồng x t x x t thấy, bị đơn đã được Tòa án cấp sơ th m triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ th m ngày 12/9/2024. Căn cứ Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 2356/2024/QĐST-LĐ ngày 12/9/2024, Hội đồng x t x cấp sơ th m x t thấy cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu kh ng thực hiện thì kh ng thể giải quyết được vụ án và kh ng thể thực hiện được ngay tại phiên tòa nên đã quyết định tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại các Điều 235 và 259 của Bộ luật Tố tụng dân sự và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 24/9/2024. Việc tạm ngừng phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa và đã th ng báo trực tiếp, c ng khai cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp biết về thời gian tiếp tục phiên tòa nên Toà án cấp sơ th m kh ng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, do đó kh ng cần thiết phải huỷ bản án sơ th m. Mặc dù bị đơn vắng mặt tại phiên tòa ngày 24/9/2024 nhưng sau khi nhận được bản án sơ th m, bị đơn đã thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định, Toà án cấp phúc th m đã thụ lý vụ án, xem x t kháng cáo của bị đơn nên kh ng có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ th m.
. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cho rằng nguyên đơn đã tự
ý bỏ việc 05 ngày liên tục trở lên từ ngày 14/3 đến ngày 18/3/2023 nhưng kh ng có lý do chính đáng. Biên bản xác nhận ngày 18/3/2023 về việc vắng mặt ng P tại nơi làm việc có nội dung: Ngày 14/03/2024 đến ngày 18/03/2024 ng Nguyễn Hoàng P nhân sự Phòng kỹ thuật tự ý vắng mặt tại nơi làm việc”. Hội đồng x t x x t thấy, biên bản này được lập ngày 18/3/2023, tuy nhiên lại ghi nhận sự vắng mặt của ng P từ ngày 14/3/2024 đến ngày 18/3/2024 là kh ng phù hợp, có sự mâu thuẫn giữa ngày lập biên bản và thời gian vắng mặt của ng P nên kh ng có cơ sở để xác định ng P đã tự ý bỏ việc mà kh ng có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên từ ngày 14/3 đến ngày 18/3/2023.
. Tại phiên tòa phúc th m, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
xác nhận: Ông P làm việc từ năm 2022 nên có thời gian nghỉ ph p năm là 12 ngày/năm; các ngày ph p năm 2022 của ng P chưa nghỉ được cộng dồn sang năm 2023. Chữ P” trong bảng chấm c ng tháng 3/2023 do bị đơn cung cấp có nghĩa là ng P nghỉ có ph p và từ ngày 06/3 đến ngày 31/3/2023 ng P được chấm c ng nghỉ có ph p. Đồng thời, bị đơn cung cấp bảng chấm công ngày 10/4/2023, thể hiện từ ngày 16/3 đến 31/3/2023 ng P nghỉ kh ng ph p và kh ng có xác nhận của người có th m quyền quản lý. Căn cứ bảng chấm c ng tháng 3/2023 do bị đơn cung cấp tại Tòa án cấp sơ th m (bút lục 79) thể hiện từ ngày 06/3 đến 31/3/2023 ng P nghỉ và được chấm c ng là chữ P”, có xác nhận của ng Lê Quang P2 nên có cơ sở để xác định từ ngày 06/3 đến ngày 13/3/2023, ông P nghỉ ốm và được sự đồng ý của người quản lý trực tiếp là ng Lê Quang P2. Từ ngày 14/3 đến ngày 31/3/2023, ông P đã được bị đơn chấm nghỉ có ph p. Hội đồng x t thấy, chứng cứ về việc chấm c ng tháng 3/2023 do bị đơn cung cấp tại Tòa án cấp sơ th m có xác nhận của người có th m quyền quản lý ng P trong thời gian làm việc, còn tài liệu chấm c ng tháng 3/2023 do bị đơn cung cấp tại Tòa án cấp phúc th m thể hiện ng P nghỉ kh ng ph p từ ngày 16/3/2023 nhưng kh ng có người có th m quyền xác nhận và sự mâu thuẫn với chứng cứ đã cung cấp trong hồ sơ vụ án nên kh ng có cơ sở để xác định ng P đã nghỉ việc kh ng ph p từ ngày 16/3 đến ngày 31/3/2023.
. Quyết định số 13/2023/QĐ-TTSOS ngày 31/3/2023 của Trung Tâm
chấm dứt hợp đồng lao động với ng P với lý do ng P có đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, bị đơn kh ng chứng minh được nguyên đơn có đơn đề nghị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hai bên đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 31/3/2023 theo quy định tại khoản 3 Điều 34 của Bộ luật Lao động năm 2019. Tòa án cấp sơ th m xác định Quyết định số 13 của Trung tâm chấm dứt hợp đồng lao động với ông P là trái pháp luật, chấp nhận các yêu cầu khởi kiện nguyên đơn: Hủy bỏ Quyết định số 13; buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp các khoản tiền lương trong những ngày kh ng được làm việc từ 31/4/2023 đến ngày 05/7/2024 (ngày hết hạn hợp đồng) là 15 tháng 05 ngày; trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 24.000.000 đồng; trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động do vi phạm thời gian báo trước là 30 ngày với số tiền 12.000.000 đồng là phù hợp nên kh ng có cơ sở để Hội đồng xét x chấp nhận kháng cáo này của bị đơn.
. Xét thấy hợp đồng lao động số 21/2022/HĐLĐ-TTSOS ngày
05/7/2022 có thời hạn 02 năm, do đó ngày 05/7/2024 là ngày hết hạn hợp đồng. Tòa án cấp sơ th m xét x vụ án ngày 24/9/2024, sau khi hợp đồng lao động chấm dứt nhưng lại buộc bị đơn bồi thường 02 tháng tiền lương do hai bên đồng ý chấm dứt hợp đồng với số tiền 24.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Bộ luật Lao động là chưa phù hợp nên có cơ sở để Hội đồng xét x chấp nhận kháng cáo này của bị đơn, s a một phần bản án sơ th m.
. Tại phiên tòa phúc th m, nguyên đơn và bị đơn cùng xác nhận, bị
đơn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn từ tháng 8/2022 đến tháng 02/2023 trên mức lương 5.500.000 đồng/tháng. Tháng 7/2022 và 3/2023 nguyên đơn và bị đơn chưa đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, người s dụng lao động và người lao động phải có trách nhiệm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Căn cứ sổ bảo hiểm xã hội của ng P thì ông P và Trung tâm chỉ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 8/2022 đến tháng 02/2023 trên mức lương 5.500.000 đồng/tháng, trong khi ng P làm việc và nhận lương từ tháng 7/2022 đến tháng 3/2023. Tòa án cấp sơ th m chỉ buộc Trung Tâm có nghĩa vụ tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp cho ng P tháng 7/2022 và tháng 3/2023 nhưng kh ng nêu mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm cụ thể là chưa chính xác. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ th m buộc nguyên đơn và bị đơn đóng bảo hiểm bắt buộc cho nguyên đơn từ ngày 01/4/2023 đến ngày 05/7/2024 trên mức lương 12.000.000 đồng/tháng là chưa phù hợp. Do đó, Tòa án cấp phúc th m s a một phần bản án sơ th m buộc nguyên đơn và bị đơn cùng có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn tháng 7/2022 và tháng 3/2023, từ tháng 01/4/2023 đến ngày 05/7/2024 trên mức lương 5.500.000 đồng/tháng nên có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.
. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng
x t x chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, s a một phần bản án lao động sơ th m là có căn cứ nên Hội đồng x t x chấp nhận.
. Án phí lao động sơ th m: Toà án cấp sơ th m x t cho nguyên đơn
được miễn án phí lao động sơ th m đối với phần yêu cầu khởi kiện kh ng được chấp nhận; buộc bị đơn phải chịu án phí lao động sơ th m đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Án phí lao động phúc th m: Do Hội đồng x t x s a bản án sơ th m
nên nguyên đơn, bị đơn kh ng phải chịu án phí lao động phúc th m. Bị đơn được nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí phúc th m đã nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, khoản 2 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296
và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
Điều 13, Điều 14, điểm b khoản 1 Điều 20, các Điều 34, 39, 41, 48, điểm
a khoản 1 Điều 179, khoản 1 Điều 188, Điều 219 của Bộ luật lao động năm 2019;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được s a đổi, bổ sung năm 2014);
Khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên x :
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Trung tâm Ứ. S a một phần
Bản án lao động sơ th m số 43/2024/LĐ-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng P.
1.1. Hủy bỏ Quyết định số 13/2023/QĐ-TTSOS ngày 31/3/2023 của
Trung tâm Ứ, về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Nguyễn Hoàng P.
1.2. Hợp đồng lao động số 21/2022/HĐLĐ-TTSOS ngày 05/7/2022 giữa
Trung tâm Ứ với ng Nguyễn Hoàng P chấm dứt kể từ ngày 05/7/2023 (ngày hết hạn hợp đồng).
1.3. Buộc Trung tâm Ứ có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hoàng P một
lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền 218.307.692 đồng (hai trăm mười tám triệu ba trăm lẻ bảy nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng), bao gồm:
- Trả tiền lương trong những ngày kh ng được làm việc từ 31/3/2023 đến
ngày 05/7/2024 với số tiền 182.307.692 đồng (một trăm tám mươi hai triệu ba trăm lẻ bảy nghìn sáu trăm chín mươi hai đồng).
- Trả thêm một khản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương do chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
- Trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động do
vi phạm thời gian báo trước là 30 ngày với số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
1.4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu Trung tâm Ứ không thực hiện hoặc thực hiện kh ng đầy đủ thì Trung tâm Ứ còn phải trả cho ông P số tiền lãi trên số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất huy động tiền g i có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người s dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
1.5. Buộc Trung tâm Ứ và ông Nguyễn Hoàng P có nghĩa vụ tiếp tục đóng
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ng P 02 tháng còn thiếu là tháng 7/2022 và tháng 3/2023 tính trên mức lương 5.500.000 đồng/tháng.
1.6. Buộc Trung tâm Ứ và ông Nguyễn Hoàng P phải tiếp tục tiếp tục
đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp cho ng P từ ngày 01/4/2023 đến ngày 05/7/2024 tính trên mức lương 5.500.000 đồng/tháng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng
P về việc buộc Trung tâm Ứ bồi thường 02 tháng tiền lương do hai bên đồng ý chấm dứt hợp đồng với số tiền 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
3. Án phí lao động sơ th m:
3.1. Ông Nguyễn Hoàng P được miễn án phí lao động sơ th m.
3.2. Trung tâm Ứ phải chịu 6.549.230 đồng (sáu triệu năm trăm bốn mươi
chín nghìn hai trăm ba mươi đồng).
4. Án phí lao động phúc th m:
4.1. Trung tâm Ứ kh ng phải chịu án phí lao động phúc th m, được nhận
lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí phúc th m 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018262 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Ông Nguyễn Hoàng P kh ng phải chịu án phí lao động phúc th m.
5. Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Các
đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có th m quyền.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè; - Đương sự; - Lưu (T15). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Trúc |