vanban.org

Bản án 06/2025/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T đối với Công ty Cổ phần T1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Buộc Công ty Cổ phần T1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH T với tổng số tiền: 25.695.737.535 (hai mươi lăm tỷ sáu trăm chín mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi lăm) đồng; trong đó: tiền hàng còn nợ: 19.184.367.911 (mười chín tỷ một trăm tám mươi tư triệu ba trăm sáu m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Thiện L-Pomina"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T đối với Công ty Cổ phần T1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 06/2025/KDTM-ST
Ngày 22-7-2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Lệ Chi.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.

- Thư ký phiên tòa: bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Vào ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 43/2025/TLST-KDTM ngày 14 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 28/2025/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-KDTM ngày 07/7/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH T; địa chỉ: 2 N, phường C, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo pháp luật: bà Phan Thị Khánh N, chức vụ - Giám đốc. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn D, sinh năm 1984; địa chỉ: F tổ I, khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai, theo văn bản ngày 05/7/2025. Có mặt.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần T1; địa chỉ: Số A, đường số B, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: nhà máy L1 - chi nhánh công ty cổ phần T1, đường số I, KCN P, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ngày 06/6/2025). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Văn D trình bày:

Vào ngày 16/05/2022 và ngày 23/07/2022, Công ty TNHH T (gọi tắt Công ty T) đã ký các Hợp đồng mua bán hàng hóa số: 7/PO3/722164 và Hợp đồng mua bán hàng hóa số: 7/PO3/722261 với nhà máy luyện phôi thép – chi nhánh Công ty Cổ Phần T1, mã số thuế: 3700321364-001 (sau đây gọi tắt là Công ty T1). Theo đó, Công ty T là nhà cung cấp cho Công ty T1 các mặt hàng than. Phương thức và thời hạn thanh toán đã được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng.

Thực hiện theo hợp đồng, Công ty T đã giao hàng theo đúng thời hạn và số lượng đã thỏa thuận. Tổng giá trị các đơn hàng theo các Hóa đơn giá trị gia tăng là 36.340.733.027 đồng, cụ thể: Hóa đơn giá trị gia tăng số C22TTL55 ngày 08/06/2022: 22.947.399.636 đồng. Hóa đơn giá trị gia tăng số C22TTL76 ngày 25/08/2022: 13.393.333.391 đồng. Tổng số tiền 36.340.733.027 đồng.

Căn cứ Điều 6.2 trong Hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký giữa hai bên thì Công ty T1 thanh toán bằng hình thức chuyển khoản giá trị các đơn hàng trong vòng 60 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty T1 mới thanh toán được số tiền 17.156.365.116 đồng. Số tiền hàng còn nợ là: 19.184.367.911 (mười chín tỷ một trăm tám mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm mười một) đồng. Công ty T đã nhiều lần yêu cầu Công ty T1 thanh toán số tiền nợ theo đúng thỏa thuận, nhưng Công ty T1 không thanh toán, đã làm ảnh hưởng đến nguồn tài chính của công ty T, gây khó khăn đến việc chi trả lương cho nhân viên và Công ty T phải trả lãi vay hàng tháng cho ngân hàng...

Nhận thấy, Công ty Cổ phần T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng mua bán hàng hóa số: 7/PO3/722164 và Hợp đồng mua bán hàng hóa số: 7/PO3/722261. Vì vậy, Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty T1 thanh toán cho công ty T số tiền nợ gốc là: 19.184.367.911 (mười chín tỷ một trăm tám mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm mười một đồng) và tiền lãi chậm thanh toán theo Điều 6.3 của Hợp đồng mua bán hàng số 7/PO3/722164 ngày 16/05/2022, và Hợp đồng mua bán hàng hóa số 7/PO3/722261 ngày 23/07/2022 số tiền lãi suất 0,027%/ngày là: 6.511.369.624 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi là: 25.695.737.535 đồng.

- Tại bản tự khai ngày 06/6/2025 và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ phần T1 là bà Nguyễn Thị L trình bày:

Nhà máy luyện phôi thép – Chi nhánh Công ty cổ phần T1 (gọi tắt “Nhà máy P”) và Công ty T đã ký với nhau 02 Hợp đồng mua bán hàng hóa như Công ty T trình bày. Giữa Công ty Cổ phần T1 và thỏa thuận của Hợp đồng đã ký kết giữa hai bên.

Tuy nhiên, từ tháng 10 năm 2022, Công ty Cổ phần T1 rơi vào tình cảnh khó khăn về tài chính. Đó là do những nguyên nhân bất khả kháng từ dịch bệnh covid 19 bùng phát dữ dội đúng thời điểm Công ty Cổ phần T1 đang xây dựng dự án Lò cao tại Khu công nghiệp P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã làm cho dự án chậm tiến độ và phát sinh thêm chi phí do việc phòng chống dịch và chi phí đưa chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện dự án. Chưa kịp hồi phục kinh tế sau dịch bệnh, Công ty Cổ phần T1 tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi chiến sự giữa N1 và U và tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Giá vốn, giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất tăng cao, trong khi giá phôi thép, thép thành phẩm giảm do thị trường bất động sản đóng băng. Công ty Cổ phần T1 buộc phải tạm ngừng hoạt động sản xuất của dự án Nhà máy luyện phôi thép tại Khu công nghiệp P từ ngày 11 năm 2022 đến nay. Công ty Cổ phần T1 mất đi toàn bộ doanh thu từ hoạt động sản xuất của Nhà máy P nên việc thanh toán tiền hàng cho Công ty T cũng bị chậm trễ so với thời hạn thanh toán theo quy định của Hợp đồng mua bán đã ký giữa hai bên. Đây cũng là tình hình khó khăn chung của các ngành kinh tế tại Việt Nam và cả thế giới, đặc biệt những ngành liên quan đến bất động sản vào thời điểm này. Do vậy, Chính phủ cũng đã phải vào cuộc can thiệp yêu cầu các ngân hàng tái cơ cấu nợ vay, cắt giảm lãi suất cho doanh nghiệp để bù đắp khó khăn cho doanh nghiệp. Trong tình cảnh khó khăn này, chúng tôi cũng đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ, sẻ chia của nhiều nhà thầu, nhà cung cấp và cả ngân hàng, công ty Đ,v.v... cho hoãn, kéo dài thời hạn thanh toán để Công ty Cổ phần T1 sớm vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất. Để trả nợ cho các ngân hàng và nhà cung cấp, từ cuối năm 2022, Công ty Cổ phần T1 đã chủ động lên kế hoạch tái cơ cấu toàn diện doanh nghiệp, huy động nguồn vốn từ các nhà đầu tư chiến lược, cố gắng sớm đưa Nhà máy P hoạt động trở lại trong thời gian sớm nhất. Tuy nhiên, kế hoạch tái cấu trúc của Công ty Cổ phần T1 không được suôn sẻ, thuận lợi do vướng quy định của pháp luật về chứng khoán cũng như sự thay đổi chủ quan từ phía nhà đầu tư. Hiện theo kế hoạch dự kiến trong Quý 4 năm 2025, Công ty Cổ phần T1 sẽ khôi phục hoạt động sản xuất của Nhà máy P. Việc khôi phục sản xuất của Nhà máy P được thực hiện đúng theo kế hoạch do Công ty Cổ phần T1 chủ động vốn huy động từ nhiều nguồn khác nhau chứ không bị động chờ nguồn vốn duy nhất từ nhà đầu tư chiến lược như các đợt huy động vốn trước đây. Do đó, sau khi khôi phục sản xuất, Công ty Cổ phần T1 sẽ có doanh thu để trả dần công nợ cho các nhà cung cấp nói chung trong đó có Công ty T.

Về yêu cầu khởi kiện của Công ty T, Công ty Cổ phần T1 xác nhận số tiền hàng chưa thanh toán là: 19.184.367.911 đồng. Công ty Cổ phần T1 xin được thanh toán cho Công ty T vào cuối quý 4 năm 2025, sau khi Nhà máy P khôi phục sản xuất. Đối với tiền lãi chậm thanh toán, Công ty T đang áp dụng với mức lãi quá cao so với lãi suất cho vay của các ngân hàng. Do đó, để giảm bớt gánh nặng trả nợ gốc và lãi cho Công ty T, bị đơn kính mong Q tòa xem xét áp dụng mức lãi suất hợp lý dựa trên sự thỏa thuận của hai bên, theo quy định của các pháp luật và phù hợp với khả năng, điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Công ty Cổ phần T1.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Thẩm quyền giải quyết: Tại hợp đồng mua bán hàng hóa số 7/P03/722164 ngày 16/5/2022 và số 7/P03/722261 ngày 23/7/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận “nếu trường hợp hai bên không thể tự giải quyết thì một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tại tỉnh bà R-Vũng Tàu để giải quyết”. Thỏa thuận giữa hai bên không ghi rõ cụ thể Tòa án nào tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thỏa thuận này chưa rõ ràng. Bị đơn có trụ sở tại: số A, đường số B, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh). Nguyên đơn yêu cầu lựa chọn Tòa án nơi bị đơn có trụ sở giải quyết tranh chấp. Tại phiên tòa, bị đơn đồng ý Tòa án nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét thấy, Hợp đồng mua bán hàng hóa số 7/PO3/722164 ngày 16/05/2022 và Hợp đồng mua bán hàng hóa số 7/PO3/722261 ngày 23/07/2022 được ký kết giữa người có thẩm quyền của nguyên đơn và bị đơn, thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Thực hiện giao kết, nguyên đơn đã giao hàng cho bị đơn theo thỏa thuận là các mặt hàng than, về quy cách, số lượng, đơn giá và thành tiền được thể hiện cụ thể theo Hóa đơn số 1C22TTL76 phát hành ngày 25/08/2022; biên bản làm việc ngày 14/11/2022; Biên bản đối chiếu công nợ ngày 11/10/2022; biên bản thỏa thuận ngày 26/12/2023; biên bản đối chiếu công nợ ngày 01/04/2025. Căn cứ các Hóa đơn giá trị gia tăng thì tổng giá trị hàng hóa nguyên đơn đã giao cho bị đơn là 36.340.733.027 đồng. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty Cổ phần T1 mới thanh toán được số tiền 17.156.365.116 đồng. Số tiền nợ quá hạn mà Công ty Cổ phần T1 chưa thanh toán là: 19.184.367.911 đồng. Bị đơn thừa nhận số tiền còn nợ của nguyên đơn là 19.184.367.911 đồng; đồng ý thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn, đây là sự tự nguyện của bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [3] Về tiền lãi chậm thanh toán: nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 18/7/2022 đối với hóa số 55 ngày 08/6/2022 và từ ngày 07/11/2022 đối với hóa đơn số 76 ngày 25/8/2022 đến ngày xét xử (ngày 22/7/2025), mức lãi suất 0,027%/ngày là 6.511.369.624 đồng. Tại khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng mua bán hàng hóa số 7/PO3/722164 ngày 16/05/2022 và số 7/PO3/722261 ngày 23/07/2022 các bên có thỏa thuận: bên B thanh toán 100% giá trị hợp đồng cho bên A trong vòng 60 ngày làm việc kể từ ngày bên B nhận đủ hàng qua cân tại nhà máy và các chứng từ hợp lệ sau: Hóa đơn thuế giá trị giá tăng, biên bản giao nhận hàng hóa. [4] Theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Căn cứ vào biểu lãi suất do Ngân hàng S, Ngân hàng TMCP N2, Ngân hàng TMCP C cung cấp thì mức lãi suất trung bình của 03 ngân hàng là 10,66%/năm, tương đương 0,029/ngày. [5] Hóa đơn giá trị gia tăng số 1C22TTL ngày 08/6/2022 số tiền 22.947.399.636 đồng; hóa đơn giá trị gia tăng số 1C22TTl ngày 25/8/2022 là 13.393.333.391 đồng. Như vậy, tính từ ngày18/8/2022 đối với hóa đơn số 55 ngày 08/6/2022, từ ngày 07/11/2022 đối với hóa đơn số 76 ngày 25/8/2022, bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn là vi phạm thời hạn thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền lãi theo mức lãi suất 0,027%/ngày tương ứng với số tiền lãi là 6.511.369.624 đồng là phù hợp và có lợi cho bị đơn nên chấp nhận. [6] Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn là: 25.695.737.535 đồng. [7] Từ những phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [8] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 50, Điều 51 và Điều 306 của Luật Thương mại; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T đối với Công ty Cổ phần T1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Buộc Công ty Cổ phần T1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH T với tổng số tiền: 25.695.737.535 (hai mươi lăm tỷ sáu trăm chín mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi lăm) đồng; trong đó: tiền hàng còn nợ: 19.184.367.911 (mười chín tỷ một trăm tám mươi tư triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm mười một) đồng và tiền lãi 6.511.369.624 (sáu tỷ năm trăm mười một triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm hai mươi bốn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần T1 phải chịu 133.695.738 (một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm ba mươi tám) đồng.

Trả lại cho Công ty TNHH T 66.685.268 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008307 ngày 13/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ