vanban.org

Bản án 06/2025/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh.

Buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tính đến hết ngày 29-7-2025 cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền nợ là: Nợ gốc: 99.210.723 đồng; Nợ lãi: 125.137.772 đồng; Tổng cộng: 224.348.495 (hai trăm hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Kinh doanh thương mại"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/KDTM-ST
Ngày 29-7-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng bảo lãnh”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Khôi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thanh Dung

Bà Nguyễn Thị Kim Cúc

- Thư ký phiên tòa: Lê Huỳnh Lan Vi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng (khu vực 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 10/2024/TLST-KDTM ngày 27-5-2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-KDTM ngày 04 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-KDTM ngày 27 tháng 6 năm 2025, Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 35.1/TB-TA ngày 09-7-2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V. Địa chỉ: 89 Láng H, phường Láng H, Thành phố Hà N. Do ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị làm đại diện.

Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Gồm những người có tên theo Văn bản uỷ quyền của nguyên đơn theo văn bản số 4/2024/UQ-VPB ngày 15/10/2024 là ông Nguyễn Huy Ph, ông Nguyễn Mạnh S, bà Nguyễn Thị Xuân H, ông Nguyễn Hồng S, ông Trần Văn Th; ông Sỹ, ông Sơn có mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ. Địa chỉ công ty: Thôn Hòa Đ, xã Núi Th, thành phố Đà N (địa chỉ trước đây: THôn Hòa V, xã Tam Ngh, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn Thọ L, xã Sông C, tỉnh Đắk L (địa chỉ trước đây: thôn Thọ L, xã Xuân B, thị xã Sông C, tỉnh Phú Y; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Văn T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn Thọ L, xa Sông C, tỉnh Đắk L (địa chỉ trước đây: xã Xuân B, thị xã Sông C, tỉnh Phú Y; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị Tú Th, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn Xuân N, xã Cam R, tỉnh Khánh H (địa chỉ trước đây: Thôn Xuân N, xã Cam Phúc N, huyện Cam R, tỉnh Khánh H; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Sơn trình bày:

Về thông tin hợp đồng tín dụng: Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN ngày 10/12/2019; Hạn mức tín dụng: 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng; Thời hạn hạn mức thẻ: 60 tháng; Lãi suất trong hạn là: 31%/năm. Lãi suất thẻ tín dụng trong hạn này sẽ được điều chỉnh theo đúng quy định tại Bản Điều kiện chung về phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế áp dụng cho KHDN được công bố trên Website http://www.vpbank.com.vn.

Thông tin biện pháp bảo đảm: Theo Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL/VPBank-02 ngày 05/12/2019 ông Trần Văn Tám đồng ý, bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ đối với bên VPBank phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng được ký kết trước, trong và sau giữa Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ và VPBank.

Theo Hợp đồng bảo lãnh số: 02/HĐBL/VPBank-03 ngày 05/12/2019 bà Phạm Thị Tú Thanh đồng ý, băng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiên và không hủy ngang cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ đối với bên VPBank phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng được ký kết trước, trong và sau giữa Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ và VPBank.

Quá trình vi phạm hợp đồng: Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ đã hết thời hạn của hợp đồng vay, vì vậy buộc Công ty TNHH Thương mại – dịch vụ Hòa Đ phải thanh toán tất cả các khoản tiền còn lại bao gồm lãi và gốc. Tạm tính đến ngày 29/7/2025, tổng dư nợ các khoản vay nêu trên là: Nợ gốc: 99.210.723 đồng; Nợ lãi: 125.137.772 đồng; Tổng cộng: 224.348.495 đồng.

Từ nội dung vụ việc như trên, VPBank đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

Buộc Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ phải thanh toán cho VPBank toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tạm tính đến ngày 29/7/2025, tổng dư nợ các khoản vay nêu trên là: Nợ gốc: 99.210.723 đồng; Nợ lãi: 125.137.772 đồng; Tổng cộng: 224.348.495 đồng và tiếp tục trả cho VPBank tiền lãi theo đúng thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến ngày Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ thực tế thanh toán hết ng cho VPBank.

Trong trường hợp Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn Tám và bà Phạm Thị Tú Thanh là người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ, thực hiện thay toàn bộ nghĩa vụ của công ty theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.

- Tại Biên bản ghi lời khai của đương sự ngày 20-5-2025, đại diện bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trần Văn Tám trình bày:

Hiện nay, ông còn đăng ký thường trú và đang sinh sống tại thôn Thọ Lộc, Xuân Bình, Sông Cầu, Phú Yên. Đối với Công ty TNHH TMDV Hòa Đ (gọi tắt là Công ty) trên thực tế ông không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty mà ông chỉ đứng tên giùm người khác. Mọi hoạt động của Công ty do người khác chỉ đạo, điều hành (giữa ông và người này chỉ thỏa thuận bằng miệng chứ không có văn bản).

Đối với Hợp đồng đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế giữa Công ty và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V, bản thân ông không có liên quan, không ký vào hợp đồng. Ông chỉ trực tiếp ký vào hợp đồng bảo lãnh ngày 05/12/2019.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông đề nghị Tòa án giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Ông đã nhận toàn bộ thông báo của Tòa án nhưng do ở xa và không liên quan đến khoản nợ nên ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.

Đối với khoản tiền này do bà Phạm Thị Tú Thanh (người sử dụng thẻ chính) đại diện Công ty ký vay với ngân hàng, chứ không liên quan tới ông. Bản thân ông không nhận, không biết và không liên quan đến khoản nợ nêu trên.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Tú Thanh trình bày tại bản tự khai ngày 29-5-2025 và bản trình bày ý kiến ngày 15-5-2025:

Khoản thời gian tháng 12/2019 Công ty TNHH TM DV Hòa Đ có ký Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với VPBank Chi nhánh Đà Nẵng, Hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Dư nợ gốc hiện tại: 99.210.723 đồng (Chín mươi chín triệu, hai trăm mười nghìn, bảy trăm hai mươi ba đồng). Thời gian này bà có ký hợp đồng lao động làm việc tại Công ty TNHH TM DV Hòa Đ, việc sử dụng hạn mức thẻ tín dụng được dùng chung cho việc hoạt động của công ty và chi lương cho nhân sự, trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, hàng tháng công ty vẫn thanh toán cho Ngân hàng; Tuy nhiên sau đó Công ty Hòa Đ đã trễ hạn nghĩa vụ thanh toán với Quý Ngân hàng; chúng tôi lấy làm tiếc vì sự chậm trễ này. Việc trậm trễ thanh toán cho VPBank xuất phát từ nguyên nhân bất khả kháng, khách quan và ngoài mong muốn của Công ty, tình hình khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid 19 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất kinh doanh, Công ty không thu hồi được công nợ dẫn đến tài chính của Công ty không có nguồn thu để thanh toán cho các tổ chức tín dụng và Công ty không còn vốn để hoạt động kinh doanh, tạm ngưng toàn bộ mọi hoạt động kinh doanh và Công ty không thu hồi được công nợ của các khách hàng dẫn đến Công ty không còn khả năng chi trả các chi phí, lương nên nhân sự và bà đã thôi việc vào thời điểm năm 2020. Theo bà được biết công ty tình trạng giống “phá sản” nhưng chưa thể làm động tác giải thể được vì còn công nợ các khách hàng chưa thanh toán cho Công ty Hòa Đ. Về đời sống cá nhân của bà, kể từ năm 2020 Công ty Hòa Đ không thanh toán lương dẫn đến cuộc sống bà vô cùng khó khăn và hiện tại bà đang nghỉ thai sản ở nhà nuôi con mọn không có chi phí trang trải cuộc sống.

Trên tinh thần thiện chí và hợp tác giải quyết dư nợ thẻ tín dụng VPBank chúng tôi nghiêm túc thực hiện, rất mong Quý Ngân hàng tạo điều kiện cho Doanh nghiệp cơ cấu tài chính để khôi phục khó khăn, giãn thời gian thanh toán dư nợ cho Quý Ngân hàng. Rất mong Quý Ngân hàng xem xét bỏ lãi quá hạn, chỉ thu hồi gốc.

Bà có đại diện Công ty TNHH TM DV Hòa Đ để ký hợp đồng vay, hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBANK-03 ngày 05/12/2019 với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V (VPBank) - Chi nhánh Đà Nẵng. Tuy nhiên, thực tế bà không điều hành công ty chính thức và bà làm việc trên tinh thần là nhân viên hợp đồng lao động và nhờ đứng (không có văn bản). Số tiền vay, tiền thẻ tín dụng đều sử dụng vào mục đích chung của Công ty đúng như tinh thần của hợp đồng vay, bà không dùng khoản tiền này cho cá nhân bà. Công ty TNHH TM - DV Hòa Đ có trách nhiệm thanh toán khoản vay trên.

Cá nhân bà thừa nhận có đứng tên ký kết hợp đồng bảo lãnh số 02/HDBL/VPBANK-03 ngày 05/12/2019, nhưng vì không sử dụng số tiền trên nên yêu cầu Toà án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Bà đã nhận toàn bộ thông báo, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, nhưng do ở xa và không còn liên quan đến Công ty TNHH TM DV Hòa Đ nên bà kính đề nghị Tòa án xét xử bà được vắng mặt.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết đúng quy định của Pháp luật.

* Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đảm bảo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 94, Điều 95 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh. Buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tính đến hết ngày 29-7-2025 cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền nợ là: Nợ gốc: 99.210.723 đồng; Nợ lãi: 125.137.772 đồng; Tổng cộng: 224.348.495 đồng và buộc Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tiếp theo từ ngày 30-7-2025 theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN ngày 10/12/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay.

Trường hợp Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V có quyền yêu cầu ông Trần Văn Tám và bà Phạm Thị Tú Thanh trả nợ thay cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ theo Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBank-02 ngày 05/12/2019 và Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBank-03 ngày 05/12/2019.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V khởi kiện đối với Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay và lãi vay theo hợp đồng tín dụng, trường hợp không trả được nợ thì đề nghị người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả nợ thay cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ theo các hợp đồng bảo lãnh đã ký kết để ngân hàng thu hồi nợ vay.

Căn cứ các Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.

Quan hệ pháp luật có tranh chấp phải giải quyết: “Tranh chấp hợp đồng hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh”.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và họ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V và Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ đã ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN ngày 10/12/2019 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại các Điều 117, 398, 401 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Theo ý kiến trình bày của bà Phạm Thị Tú Thanh thì bà thừa nhận giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V và Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ đã ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN ngày 10/12/2019, bà cho rằng Công ty không trả được nợ là do khó khăn trong làm ăn, Công ty chưa thu hồi nợ được nên chưa trả được nợ cho ngân hàng, mong ngân hàng chỉ thu hồi tiền nợ gốc nhưng đại diện ngân hàng không đồng ý và yêu cầu thanh toán cả tiền lãi và tiền gốc phát sinh. Bà Thanh thừa nhận có ký kết với ngân hàng Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBank-03 ngày 05/12/2019.

Ông Trần Văn Tám cho rằng trên thực tế ông là người đứng tên Công ty giùm cho người khác, điều này chỉ thoả thuận miệng mà không có văn bản. Ông thừa nhận ông là người trực tiếp ký vào hợp đồng bảo lãnh ngày 05/12/2019. Ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo Công văn số 216/CV-ĐKKD ngày 25-12-2024 của Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cung cấp thông tin: Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ được Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 4001087025 đăng ký lần đầu ngày 19/7/2016, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 15/10/2019; địa chỉ trụ sở chính của Công ty tại thôn Hòa Vân, xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo pháp luật của Công ty: ông Trần Văn Tám, chức danh: Giám đốc. Hiện nay, Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ chưa làm thủ tục giải thể theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V. Tính đến ngày 29-7-2025, Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ còn nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V tổng dư nợ các khoản vay nêu trên là: Nợ gốc: 99.210.723 đồng; Nợ lãi: 125.137.772 đồng; Tổng cộng: 224.348.495 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ.

Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 94, Điều 95 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V, buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tính đến ngày 29-7-2025 là: Nợ gốc: 99.210.723 đồng; Nợ lãi: 125.137.772 đồng; Tổng cộng: 224.348.495 đồng và buộc Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tiếp theo từ ngày 30-7-2025 theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN ngày 10/12/2019 đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay.

Để đảm bảo cho các khoản vay tín dụng trên:

Ông Trần Văn Tám ký kết Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBank-02 ngày 05/12/2019; theo đó ông Trần Văn Tám đồng ý trả nợ vay cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ trong trường hợp Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ không trả được nợ vay cho VPBank.

Bà Phạm Thị Tú Thanh ký kết Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBank-03 ngày 05/12/2019; theo đó bà Phạm Thị Tú Thanh đồng ý trả nợ vay cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ trong trường hợp Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Hòa Đ không trả được nợ vay cho VPBank.

Xét các Hợp đồng bảo lãnh nêu trên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V có quyền yêu cầu ông Tám, bà Thanh trả nợ thay cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký kết nêu trên để thu hồi nợ.

Về án phí:

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V được chấp nhận. Vì vậy, buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 94, Điều 95 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh.

2. Buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tính đến hết ngày 29-7-2025 cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền nợ là: Nợ gốc: 99.210.723 đồng; Nợ lãi: 125.137.772 đồng; Tổng cộng: 224.348.495 (hai trăm hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi tám nghìn, bốn trăm chín lăm) đồng và buộc Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tiếp theo từ ngày 30-7-2025 theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHDN ngày 10/12/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay.

Trường hợp Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V có quyền yêu cầu ông Trần Văn Tám và bà Phạm Thị Tú Thanh trả nợ thay cho Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ theo Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBank-02 ngày 05/12/2019 và Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBank-03 ngày 05/12/2019 đã được ký kết giữa các bên.

3. Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Hòa Đ phải chịu 11.217.424 (mười một triệu, hai trăm mười bảy nghìn, bốn trăm hai bốn) đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.400.000 (ba triệu, bốn trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006614 ngày 27-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ