- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N TCTS khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HSST Ngày: 21/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- T2 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Tạ Minh Tiếp và ông Nguyễn Quốc Doanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Giang- Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
-Đại diện VKSND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Cúc- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VĂN GIANG, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 30/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:02/2025/QĐXXST-HS ngày07/01/2025đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn N Tên gọi khác: (không có), Giới tính: Nam. Sinh năm: 2002; tại huyện KS, tỉnh NB. Nơi đăng ký HKTT: xóm 12, xã KT, huyện KS, tỉnh N B. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông Nguyễn Đặng Tề T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H. Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo N bị bắt tạm giam ngày 17/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Theo lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Hoàng Thị T1, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xã AK, huyện HĐ, Thành phố HN.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Bùi Công Á, sinh năm: 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã TL, huyện NQ, tỉnh NB.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1981(vắng mặt)
Địa chỉ: Chung cư TL, xã AK, huyện HĐ, Thành phố HN.
- Anh Lê Hoài N1, sinh năm: 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 11, xã NT, huyện VG, tỉnh HY.
- Ông Quản Trường T2, sinh năm: 1975(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn PT, xã NT, huyện VG, tỉnh HY.
* Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn LC, xã NT, huyện VG, tỉnh HY.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N, sinh năm 2002, hộ khẩu thường trú (HKTT): xóm 12, xã KT, huyện KS, tỉnh N B, là lao động tự do tại các khu đô thị thuộc xã NT, huyện VG, tỉnh HY. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân, N nảy sinh ý định đến khu đô thị VHOP3, thuộc xã NT tìm xem ai có sơ hở trong việc quản lý tài sản sẽ trộm cắp mang bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 14/10/2024, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 35N1-296.82, đi đến trước cửa căn hộ PB10 - 23, đường Phố Biển 10 khu đô thị VHOP3, của gia đình chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1993, HKTT xã AK, huyện HĐ, Thành phố HN, thì thấy anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1981, HKTT: Chung cư TLV, xã AK, huyện HĐ, Thành phố HN (là công nhân lắp đặt điện, nước cho gia đình chị T1) đang khóa cửa căn hộ để về. N đỗ xe ở ven đường, đối diện với căn hộ của nhà chị T1, rồi đứng quan sát xem sau khi khóa cửa thì anh C để chìa khóa ở đâu. N thấy anh C để chìa khoá vào trong hộp tủ điện, bên cạnh cửa chính của căn hộ nói trên. Chờ cho anh C đi ra khỏi căn hộ khoảng 05 phút, thì N đi bộ đến tủ điện của nhà chị T1, lấy chìa khoá, rồi mở cửa đi vào bên trong căn hộ. Tại tầng 1, N thấy có 01 chiếc máy cắt điện cầm tay, bên cạnh có 01 chiếc lưỡi cắt. N đi lên tầng 2 để tìm tài sản nhưng không có tài sản gì. N tiếp tục đi lên tầng 3 để tìm tài sản, thì thấy trên mặt sàn tầng 3 có nhiều cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú chưa qua sử dụng, các cuộn dây điện được luồn vào 01 đoạn dây cáp bằng kim loại, 2 đầu dây cáp có móc, được khóa lại với nhau bằng 01 chiếc khoá màu vàng. N đi bộ xuống tầng 1 lấy chiếc máy cắt, lắp lưỡi cắt vào máy, cầm lên tầng 2, rồi lấy 01 đoạn dây điện có phích cắm và ổ cắm, cắm vào ổ điện, dòng dây từ tầng 2 lên tầng 3 để cắt khóa ở đầu dây cáp. Sau khi cắt đứt móc khóa, N lấy 2 bao tải dứa màu trắng ở bên cạnh các cuộn dây điện, nhặt 20 cuộn dây điện cho vào 02 bao tải, rồi bê từng bao xuống dưới tầng 1. Tiếp theo, N đi bộ lên tầng 2 thu dây dẫn điện dùng để cắt khóa để vào chỗ cũ, rồi lên tầng 3 tháo lưỡi cắt ra khỏi máy, cất lưỡi cắt cùng với chiếc khóa đã bị cắt móc vào túi áo khoác đang mặc, rồi cầm máy cắt xuống dưới tầng 1 để ở vị trí cũ. Sau đó, N đi ra dắt xe mô tô đến trước cửa căn hộ của nhà chị T1, bê 02 bao tải đựng dây điện để lên khung xe, chở đi tìm nơi tiêu thụ. N đi đến đường Phố Biển 2 khu đô thị VHOP3, thì bị Công an xã Nghĩa Trụ và lực lượng bảo vệ của khu đô thị đang đi tuần tra phát hiện, yêu cầu N dừng xe để kiểm tra và lập biên bản thu giữ của N 2 bao tải màu trắng, bên trong đựng 20 cuộn dây điện. Cụ thể: bao thứ nhất có 14 cuộn dây điện loại 1 x 2,5mm2; bao thứ hai có: 02 cuộn dây loại 1 x 4mm2, 03 cuộn dây điện loại 1x1,5mm2 và 01 cuộn dây điện loại 1x6mm2. Tất cả các cuộn dây điện đều có nhãn hiệu Trần Phú, mỗi cuộn dài 100m chưa qua sử dụng. Thu giữ tại túi áo khoác bên trái của N: 01 lưỡi máy cắt cầm tay và 01 chiếc khoá bằng kim loại đã bị cắt hỏng móc khóa. Quản lý của N 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, số khung GZUMHB000847, số máy 150FM000847, biển số 35N1-296.82.
Sau khi sự việc xảy ra thì ngày 15/10/2024, chị T đã đến Công an xã Nghĩa Trụ trình báo về việc bị mất 20 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú để tại căn hộ PB10 – 23, đường Phố Biển 10, khu đô thị VHOP3, xã NT. Cùng ngày, Công an xã Nghĩa Trụ báo cáo với Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang vụ việc.
Cơ quan CSĐT Công an huyện VG đã yêu cầu định giá đối với các tài sản do N chiếm đoạt của chị T1 vào ngày 14/10/2024. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75/BKL-ĐGTS ngày 22/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện VĂN GIANG xác định: 07 cuộn dây điện màu xanh loại 1x2,5mm2 x 100m x 9.174đ/m = 6.421.800 đồng; 07 cuộn dây điện màu đỏ loại 1x2,5mm2 x100mx 9.174đ/m = 6.421.800 đồng; 01 cuộn dây điện màu xanh loại 1x4mm2 x 100m x 14.108đ/m = 1.410.800 đồng; 01 cuộn dây điện màu xanh vàng loại 1x6mm2 x 100m x 20.955 đ/m = 2.095.500 đồng; 01 cuộn dây điện màu đỏ loại 1x4mm2 x100m x 14.108đ/m = 1.410.800 đồng; 01 cuộn dây điện màu xanh loại 1x1,5mm2 x 100m x 5.644đ/m = 564.400 đồng; 02 cuộn dây điện màu xanh vàng loại 1x1,5mm2 x 100m x 5.644đ/m = 1.128.800 đồng; 01 lưỡi máy cắt cầm tay: 0 đồng; 01 chiếc khoá bằng kim loại đã bị cắt hỏng tai khóa: 0 đồng. Tổng giá trị là 19.453.900 đồng.
Quá trình điều tra xác định: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 35N1 - 296.82, đăng ký mang tên anh Bùi Xuân C, sinh năm 1994, ở thôn D, xã TL, huyện NQ, tỉnh N B. Nhưng năm 2018 thì anh C đã chết, gia đình giao xe cho anh Bùi Công A là anh trai của anh C sử dụng. Ngày 14/10/2024, N hỏi mượn xe của anh A để đi ăn cơm. Việc N sử dụng xe của anh A làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội, anh A không biết. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên không có trong dữ liệu xe vật chứng. Nên ngày 17/11/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Văn Giang đã trả lại chiếc xe trên cho anh A.
Ngày 25/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang đã trả 20 cuộn dây điện nói trên, 01 lưỡi máy cắt, 01 chiếc khóa và 02 chiếc bao tải dứa cho chị Hoàng Thị T1. Nay chị T1 không yêu cầu N phải bồi thường và đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho N.
Quá trình điều tra vụ án, N thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số:03/CT-VKSVG ngày 30/12/2024,Viện kiểm sát nhân dân huyện VG, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu tại bản Cáo trạng và tỏ thái độ ăn năn hối cải.
- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng, đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173;điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 135; Điều 136; khoản 1 điều 292; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 328; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.Xử phạt bị cáo Ntừ01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tùthời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 17/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không giải quyết. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáokhông tranh luận gì.
- Khi được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bị cáo nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo, đúng pháp luật.
- Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bị cáovà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản vụ việc, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 14/10/2024, tại căn hộ PB10-23, đường Phố Biển 10, khu đô thị VHOP3, thuộc xã NT, huyện VG. Nguyễn Văn N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của gia đình chị Hoàng Thị T1 20 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú trị giá 19.453.900 đồng. Trên đường N mang số dây điện nói trên đi tiêu thụ, thì bị Công an xã Nghĩa Trụ và lực lượng bảo vệ của khu đô thị phát hiện, lập biên bản thu giữ đồ vật, tài sản liên quan.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Giá trị tài sảnbị cáo chiếm đoạt được là 19.453.900 đồng. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáovề tội danh theo điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại khu công trường, gây hoang mang, lo lắng cho công dân, doanh nghiệp đang thi công tại địa phương trong việc bảo vệ tài sản của mình nên cần phải đưa ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, skhoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang.
- Về hình phạt:Bị cáo còn trẻ nhưngkhông chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, kiếm sống bằng con đường lao động chân chính,cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là phạt tù cách lybị cáo ra khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối vớibị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, trước khi bị bắt không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Hoàng Thị T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị cáo N đã trộm cắp, không yêu cầu gì đối với bị cáo nên không đặt ra giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 35N1
- 296.82, kết quả xác minh xác định là tài sản hợp pháp của anh Bùi Công A. Ngày 14/10/2024, N hỏi mượn xe của anh Á để đi ăn cơm. Việc N sử dụng xe của anh Á làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội, anh Á không biết. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên không có trong dữ liệu xe vật chứng. Ngày 17/11/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Văn Giang đã trả lại chiếc xe trên cho anh Á là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáophải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ :
- Khoản 1 Điều 173;điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38Bộ luật hình sự;
Điều 135; Điều 136; khoản 1 điều 292; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 328; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáoNguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Xử phạt:Bị cáo Nguyễn Văn N 01năm06 tháng tù thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam17/10/2024.
4. Về án phí:Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quanvắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Vũ Thu Giang |