- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương S - Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố: Bị cáo Dương S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN N DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HSPT Ngày: 09/01/2025 |
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Thái Hùng
Ông Hoàng Trí Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 153/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Dương S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 286/2024/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo: Dương S, sinh năm 1970 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: 12/5 B, Phường 5, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương C (đã chết) và bà Bùi Thị N (đã chết); Là con út trong gia đình có 05 chị em; có vợ là Ngô Kim H và 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1994.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 03/6/2024, tạm giạm tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Võ Trường N, người làm chứng nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h00’ ngày 24/04/2024, Võ Minh T điều khiển xe mô tô vào đền Hùng Vương trong hẻm 12 B, phường 5, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngang qua trước nhà số 12/5 B, phường 5, thành phố V nơi Dương Hồng Q, Dương Q T1, Lê Thành Đ đang ngồi nhậu. Khi T từ Đền ra khu vực cổng thì Q từ chỗ nhậu đến nói T về việc điều khiển xe mô tô để đèn xe chiếu vào bàn nhậu của Q và có lời lẽ hăm dọa T. T không nói gì, điều khiển xe mô tô về nhà tại 69C Trần Xuân Độ, phường T, thành phố V.
Khoảng 19h00’ cùng ngày, T kể lại cho Võ Trường N việc Q chửi T. N nghĩ đến việc mình cũng từng bị những người ngồi nhậu tại khu vực cổng Đền Hùng hăm dọa, nên rủ T đến đánh lại nhóm Q. T đồng ý, lấy 02 con dao tự chế để ở khu vực chuồng chó, đưa 01 con dao cho N rồi bọc con dao còn lại vào trong bìa carton, để lên nơi để chân trên xe mô tô Honda SH Mode biển số 72C1-704.05 của N. N bỏ con dao tự chế T vừa đưa bên trong áo khoác của mình. T điều khiển xe mô tô chở N đến khu vực Đền Hùng. Đến đầu hẻm số 12 Bạch Đằng, T dừng xe rồi cùng N cầm dao tự chế đến khu vực Q, T1 và Đ đang ngồi nhậu. Đi được khoảng 04 mét, thấy Q đang ngồi quay lưng về phía mình, nên T rút con dao ra khỏi bìa carton, chạy đến chém vào lưng Q. N cầm dao lao đến chém Trọng. Đ bỏ chạy. Q và T1 chạy vào nhà mình, số 12/5 Bạch Đằng, phường 5, thành phố V. Q lấy con dao ở sân, T1 vào bếp lấy cây kéo. T, N thấy Q và T1 cầm dao, kéo nên lùi lại. Q lấy thêm 01 chiếc ghế nhựa, cùng với T1cầm kéo đuổi T và N. Lúc này, cha của Q và T1 là Dương S đi từ trong nhà ra. Thấy Q và T1cầm dao kéo, Dương S cũng lấy chiếc ghế nhựa đi theo sau Q và Trọng. Khi đuổi kịp, Q cầm dao chém vào T nhưng không trúng. T vừa lùi, vừa vung dao chém lại trúng đầu Q. Q lùi lại về phía trước nhà mình. T1 bị N cầm dao chém vào tay phải, đã dùng kéo đâm trúng vùng tai phải N. Khi thấy T, N bỏ chạy ra đầu hẻm số 12 Bạch Đằng, thì T1 và Dương S quay về nhà. Q và T1 được gia đình đưa đến cấp cứu tại bệnh viện Vũng Tàu. T điều khiển xe mô tô biển số 72C1-704.05 chở N về nhà T, giấu 02 con dao ở sân nhà, rồi đưa N đến Bệnh viện Bà Rịa.
Ngày 25/4/2024, Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố V họp nhận xét, đánh giá: Vụ việc trên xảy ra vào khoảng 19h15’ tại khu vực hẻm 12 Bạch Đằng, phường 5, thành phố V có nhiều người qua lại, là khu vực đông người cư trú và Đền thờ Hùng Vương Mẫu Cửu là nơi người dân thường xuyên đến dâng hương tưởng niệm các vua Hùng. Sự việc xảy ra gây mất an ninh trật tự tại khu vực trên, ảnh hưởng đến người dân sống xung quanh khu vực và người đi đường.
* Kết luận giám định:
Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 243/KLTTCT-PYBRVT ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đối với Dương Hồng Q kết luận như sau: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Q tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm). Vật gây thương tích, chiều hướng tác động gây thương tích: Thương tích của nạn N phù hợp với tổn thương cơ bản là vết chém hay băm bổ, được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau.
Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 242/KLTTCT-PYBRVT ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đối với Dương Quân T1 kết luận như sau: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của T1 tại thời điểm giám định là: 08% (Tám phần trăm). Vật gây thương tích, chiều hướng tác động gây thương tích: Thương tích của nạn nhân được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước.
Bản Kết luận luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 244/KLTTCT-PYBRVT ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đối với Võ Trường N kết luận như sau: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của N tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm). Vật gây thương tích, chiều hưởng tác động gây thương tích: Thương tích của nạn nhân có thể được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng sắc nhọn hoặc vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trị thương tích theo chiều hướng từ phải sang trái.
Bản Kết luận giám định số 3871/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh:
- Trên dao tự chế có lưỡi bằng kim loại màu đen có máu của Dương Hồng Q và Dương Quân T1, trên bìa carton có dính máu của Dương Quân T1.
- Trên dao tự chế có lưỡi bằng kim loại màu trắng xám, bị rỉ sét có dính máu của Dương Quân T1.
- Không phát hiện thấy máu trên cây kéo.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Minh T, Võ Trường N, Dương Hồng Q, Dương Quân T1, Dương S đã thừa nhận hành vi như trên (Bút lục 149-160, 174-184, 191-200, 210-218, 229-240).
* Vật chứng vụ án: Đã chuyển giao, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V quản lý, chờ xử lý gồm:
- 01 (một) con dao tự chế dài 50cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 35,4cm, cán bằng gỗ dài 14,6cm. Lưỡi dao được bọc bởi bìa carton dài 32cm, rộng 8,6cm.
- 01 (một) con dao tự chế dài 50cm; lưỡi bằng kim loại màu trắng xám, dài 35,4cm, cán bằng gỗ dài 14,6cm.
- 01 (một) con dao dài 33cm có lưỡi bằng kim loại màu trắng, trên lưỡi dao được in dòng chữ "Kiwi brand made in Thailand" và 01 (một) cái kéo có chiều dài 20cm (gờ quai được bọc nhựa màu đen; ốc thân kéo được bọc nhựa màu đen; mũi kéo nhọn; lòng trong và lòng ngoài của thân kéo được làm bằng kim loại màu trắng, trên lòng kéo được in chìm dòng chữ "Scotch Stainless Steel") do bà Ngô Kim Huê giao nộp.
- 02 chiếc ghế nhựa màu đỏ, loại ghế có tựa lưng, cao 70cm, rộng 50cm.
* Trách nhiệm dân sự:
Võ Trường N không có yêu cầu gì về dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Dương Hồng Q yêu cầu Võ Minh T, Võ Trường N bồi thường 50.000.000 đồng, mỗi người 25.000.000 đồng. T và N đồng ý bồi thường cho Q theo yêu cầu trên, mỗi người đã bồi thường trước đó 12.000.000 đồng, nên tiếp tục bồi thường mỗi người 13.000.000 đồng còn lại ngay tại phiên toà sơ thẩm.
* Võ Trường N dùng dao tự chế chém trúng tay phải Dương Quân T1 gây thương tích 08% có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Dương Quân T1 có đơn bãi nại không yêu cầu khởi tố Võ Trường N về tội cố ý gây thương tích nên cấp sơ thẩm không xem xét; cũng không xem xét về hành vi đồng phạm của bị cáo Võ Minh T đối với việc Võ Trường N gây thương tích cho Dương Quân T1.
Dương Quân T1 dùng kéo là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng đầu của Võ Trường N gây thương tích 01% có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Võ Trường N không yêu cầu khởi tố Dương Quân T1 về tội cố ý gây thương tích nên cấp sơ thẩm không xem xét xử lý.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 286/2024/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2024, Tòa án N dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố Dương S phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Dương S 02 (Hai) năm tù, tính từ ngày 03/6/2024.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt với các bị cáo khác trong vụ án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 16/9/2024, bị cáo Dương S kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, khai nhận hành vi phạm tội.
5. Đại diện Viện kiểm sát N dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo Dương S có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Dương S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù là phù hợp với N thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ hay tài liệu nào mới để xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
6. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung đơn kháng cáo, là kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 18h00’ ngày 24/4/2024, tại khu vực trước hẻm 12 Bạch Đằng, phường 5, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Võ Minh T có mâu thuẫn với nhóm người gồm: Dương Hồng Q, Dương Quân T1, Lê Thành Đ. Sau đó, Võ Minh T và Võ Trường N quay trở lại, dùng 02 con dao tự chế gây thương tích cho nhóm người trên. T dùng dao chém vào đầu Q gây thương tích tỷ lệ 14%, T1 cầm kéo đâm trúng vào vùng tai phải của N gây thương tích tỷ lệ 01%, N dùng dao chém vào tay phải T1 gây thương tích tỷ lệ 08%.
Khi thấy hai bị cáo T, N cầm dao, kéo đuổi đánh hai con mình là Q và T1, bị cáo Dương S từ trong nhà đã cầm theo chiếc ghế nhựa đi theo Q và T1, gây mất trật tự khu dân cư, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân khu vực.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Dương S về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Khi nhìn thấy hai con của mình là các bị cáo Dương Hồng Q, Dương Quân T1 cầm hung khí nguy hiểm (dao, kéo) đi đánh nhau, bị cáo đã không can ngăn mà còn cầm chiếc ghế nhựa đi theo. Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức rõ việc tụ tập đông người, đuổi đánh nhau nơi công cộng bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện dùng hung khí đuổi đánh ngay trước khu vực nhà mình, gây náo loạn khu dân cư, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Do vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Dương S 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo bổ sung giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường về việc bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn là tình tiết mới làm căn cứ xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đóng vai trò thứ yếu trong vụ án Gây rối trật tự công cộng, phạm tội trong hoàn cảnh bất ngờ ở thế bị động khi các bị cáo Võ Minh T, Võ Trường N mang dao tìm đến nhà bị cáo tấn công Dương Hồng Q, Dương Quân T1 là hai con trai của bị cáo; bản thân bị cáo khi xảy ra vụ việc chỉ cầm ghế nhựa đi theo các con khi các con đuổi đánh lại các bị cáo Võ Minh T, Võ Trường N, không có hành vi đập phá, gây thương tích cho ai; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, bản thân đang bị bệnh lao cần được điều trị lâu dài, hai con trai của bị cáo đã bị xử phạt tù trong cùng vụ án.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình, không cần tập trung cải tạo trong môi trường giam giữ. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí theo quy định.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương S; sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 286/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
1.1. Tuyên bố: Bị cáo Dương S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Dương S 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (09/01/2025).
Giao bị cáo Dương S cho Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.2. Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Dương S tại phiên toà, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 286/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án N dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương S không phải nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (09/01/2025).
(Đã giải thích về chế định án treo).
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát N dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Tòa án N dân thành phố V; - Viện Kiểm sát N dân thành phố V; - Công an thành phố V; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V; - UBND phường 5, thành phố V; - Bị cáo; - Lưu (3): Hồ sơ, Toà Hình sự, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Minh Bắc |