- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HSPT-NCTN Ngày: 28-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang;
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và ông Mai Tấn Hoàng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tân, Thẩm tra viên Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLPT-HS-NCTN, ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phong NH và Nguyễn Hoàng Khánh D, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2024/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Các bị cáo có kháng cáo:
1/ Nguyễn D H, sinh ngày 17/3/2005, (tên gọi khác: không); nơi cư trú: Khu phố 5, phường Hoà Vinh, thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; TR độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Giáo Hoan, sinh năm 1977 và bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt, sinh năm 1974; gia đình có 03 anh em ruột, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Đăng TR, sinh ngày 22/4/2006, (tên gọi khác: không); nơi cư trú: Khu phố 5, phường Hoà Vinh, thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; TR độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Giáo Đoan, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Mỹ Son, sinh năm 1986; gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Văn D, sinh ngày 24/11/2005, (tên gọi khác: không); nơi cư trú: Thôn Phú Lương, xã Hòa Tân Đông, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; TR độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Diệp, sinh năm 1975; gia đình có 03 anh em ruột, bị cáo là con thứ 3 (con út); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4/ Nguyễn Phong NH, sinh ngày 06/6/2004, (tên gọi khác: không); nơi cư trú: Khu phố 5, phường Hoà Vinh, thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; TR độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ninh, sinh năm 1981 và bà Bùi Thị Mỹ Chi, sinh năm 1986; gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5/ Nguyễn Hoàng Khánh D, sinh ngày 08/5/2007, (tên gọi khác: không); nơi cư trú: Khu phố 2, phường Hoà Vinh, thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; TR độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Gia Hoàng, sinh năm 1967 (chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ Dung, sinh năm 1970; gia đình có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 3; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1/ Lê Ngọc Pháp, sinh năm 2002; 2/ Lê Ngọc Đức, sinh năm 1975;
Cùng nơi cư trú: Khu phố 5, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; anh Pháp có mặt, anh Đức vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người đại diện theo pháp luật của của Nguyễn Hoàng Khánh D: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung, sinh năm 1970, nơi cư trú: Khu phố 2, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Lê Ngọc Ý, sinh năm 1997; nơi cư trú: Khu phố 5, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Trần Thị Trang, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu phố 5, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Nguyễn Giáo Khoa, sinh năm 1950; nơi cư trú: Khu phố 5, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phong NH, Nguyễn Hoàng Khánh D, Trần Lê Hưng, Nguyễn Lý Gia Bảo, Nguyễn Bình Thương đến nhà Nguyễn Hữu Thắng để nhậu chia tay Thắng chuẩn bị tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Bảo điều khiển xe mô tô chở H và Văn D đi về trước, khi đến đoạn đường gần sân bóng Ngọc Tùng thuộc khu phố 4, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa gặp Lê Ngọc Pháp, Võ Đăng TR, Võ Trần Ngọc Vũ, Trần Văn Tình đứng trên đường nhìn H nên H chửi tục và nói Bảo dừng xe lại, giữa H và Pháp xảy ra cãi vã nhau. H, Bảo, Văn D đánh Pháp nhưng không để lại thương tích, Vũ và Tình vào can ngăn, Pháp bỏ đi về nhà, Văn D đứng lại sân bóng nói chuyện với bạn, H và Bảo điều khiển xe mô tô về nhà Thắng, H gặp và rủ Thương đánh Pháp, Thương đồng ý, Bảo điều khiển xe chở H, Thương quay lại sân bóng nhưng không thấy Pháp nên Bảo chở H, Thương, Văn D về nhà Thắng.
H nói bị Pháp đánh và rủ TR, Văn D, NH, Khánh D, Hưng, Bảo, Thương tìm nhà của Pháp để đánh lại, cả nhóm đồng ý. NH nói biết nhà Pháp rồi NH điều khiển xe mô tô chở Hưng và Thương đi trước dẫn đường, Bảo điều khiển xe mô tô H và Văn D; TR điều khiển xe mô tô chở Khánh D theo sau. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, H, TR, Văn D, NH, Khánh D, Hưng, Bảo, Thương đứng trước cửa nhà Pháp ở khu phố 5, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa la hét, chửi lớn tiếng. Bảo và Hưng mỗi người cầm 01 hộp giấy bên trong chứa cát ném vào nhà. Pháp đi ra sân nhà, TR dùng mũ bảo hiểm, H dùng mũ cối, NH dùng tay, Văn D dùng gậy đánh vào vùng lưng, ngực, đầu Pháp. Pháp chạy vào vị trí cầu thang trong nhà thì H, Văn D tiếp tục xông vào dùng tay; Khánh D, TR dùng mũ bảo hiểm đánh vào tay, vai trái, vùng đầu của Pháp. Lúc này, Lê Ngọc Đức (cha Pháp) can ngăn đẩy nhóm H ra ngoài sân, TR dùng mũ bảo hiểm đánh trúng vùng đầu ông Đức gây thương tích. Sau khi được mọi người can ngăn, nhóm H điều khiển xe mô tô bỏ đi, ông Đức và Pháp được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương ngày 16/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương của Lê Ngọc Pháp tại thời điểm giám định là 12%; tỷ lệ phần trăm tổn thương Lê Ngọc Đức tại thời điểm giám định là 05%.
Về dân sự: Các bị cáo bồi thường 50.000.000 đồng (Mỗi bị cáo 6.250.000 đồng) cho các bị hại Lê Ngọc Pháp và Lê Ngọc Đức. Các bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.
Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa đã tuyên: Các bị cáo Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phong NH và Nguyễn Hoàng Khánh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
-Bị cáo Nguyễn D H 02 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Đăng TR 01 năm 09 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Phong NH, mỗi bị cáo 01 năm 03 tháng tù; bị cáo Nguyễn Hoàng Khánh D 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt các bị cáo thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên, xử phạt các bị cáo bị cáo Nguyễn Lý Gia Bảo 09 tháng tù, cho hưởng án treo; xử phạt Trần Lê Hưng 01 năm Cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Nguyễn Bình Thương 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác.
-Ngày 26/12/2024, bị cáo Nguyễn D H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo;
-Ngày 26/12/2024, bị cáo Nguyễn Phong NH có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo;
-Ngày 08/01/2025, bị cáo Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo;
-Ngày 27/12/2024, bị cáo Nguyễn Đăng TR có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
-Ngày 31/12/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng Khánh D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết
vụ án: Đề nghị Toà áp dụng Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-Các bị cáo không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
-Người bị hại đề nghị Tòa giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo; bà Nguyễn Thị Mỹ Dung đề nghị Tòa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Khánh D được hưởng hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, không kháng cáo kêu oan. Do đó sự vắng mặt của các bị cáo trong vụ án không có kháng cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến nội dung vụ án và nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày ngày 21/02/2024, các bị cáo Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phong NH, Nguyễn Hoàng Khánh D và một số người khác đã đến trước nhà của anh Lê Ngọc Pháp tại khu phố 5, phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa có hành vi la hét, chửi lớn tiếng gọi anh Pháp ra. Khi anh Pháp đi từ trong nhà ra ngoài sân thì TR dùng mũ bảo hiểm, H dùng mũ cối, NH dùng tay, Văn D dùng gậy đánh vào vùng lưng, ngực, đầu Pháp. Pháp chạy vào cầu thang trong nhà thì H, Văn D tiếp tục xông vào dùng tay; Khánh D, TR dùng mũ bảo hiểm đánh vào tay, vai trái, vùng đầu của Pháp. Lúc này, ông Lê Ngọc Đức (cha Pháp) can ngăn đẩy nhóm H ra ngoài sân, thì TR dùng mũ bảo hiểm đánh trúng vùng đầu ông Đức gây thương tích.
Tại Bản kết luận giám định ngày 16/3/2024 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Phú Yên, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương của Lê Ngọc Pháp là 12%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương của ông Lê Ngọc Đức là 05%.
Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo Nguyễn D H là người khởi xướng và trực tiếp dùng mũ cối Quân đội, tay, chân đánh gây thương tích cho bị hại Lê Ngọc Pháp. Các bị cáo TR, Văn D, NH, Khánh D có hành vi thống nhất ý chí với bị cáo H cùng đến nhà Pháp để đánh. Trong đó, bị cáo Văn D dùng tay chân đánh bị hại Lê Ngọc Pháp; bị cáo NH là người biết nhà Pháp dẫn các bị cáo khác đến để đánh và NH đã trực tiếp dùng tay đánh Pháp; bị cáo Khánh D dùng mũ bảo hiểm đánh Pháp; bị cáo TR dùng mũ bảo hiểm đánh vào đầu, lưng của Pháp và bị cáo TR còn dùng dùng mũ bảo hiểm đánh vào đầu của ông Lê Ngọc Đức (Cha Pháp) gây thương tích.
Do đó, Tòa sơ thẩm đã xem xét hành vi của từng bị cáo; xem xét đầy đủ
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của từng bị cáo và áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, xử phạt: Bị cáo H 02 năm 06 tháng tù, bị cáo TR 01 năm 09 tháng tù, bị cáo Văn D và bị cáo NH mỗi bị cáo 01 năm 03 tháng tù và bị cáo Khánh D 09 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, xử không nặng.
Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phong NH cung cấp tài liệu chứng cứ mới gồm: Giấy nhận tiền của bị hại Lê Ngọc Đức nhận số tiền 3.000.000 đồng và Biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm; ông Đức yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo đối với bị cáo NH. Bị cáo Nguyễn Văn D cung cấp chứng cứ mới là giấy nhận tiền của bị hại Lê Ngọc Đức nhận số tiền 2.000.000 đồng; ông Đức yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo đối với bị cáo Văn D.
Các bị cáo Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR và Nguyễn Hoàng Khánh D kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới để Hội đồng xét xử xem xét.
Xét thấy: Mặc dù tất cả các bị cáo đã cùng bồi thường cùng bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Tòa sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Phong NH và bị cáo Nguyễn Văn D có cung cấp chứng cứ mới về bồi thường thêm cho người bị hại đồng thời người bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo. Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Nguyễn Phong NH và Nguyễn Văn D đã thật sự ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi sai trái của mình, nên kháng cáo của cáo bị cáo là có cơ sở.
Các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Phong NH có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự. Ngoài lần phạm tội này các bị cáo chưa vi phạm pháp luật. Hiện tại các bị cáo đang sống cùng với cha mẹ, có nơi cư trú rõ ràng; được sự quan tâm, giáo dục tích cực của gia đình. Khi phạm tội các bị cáo vừa trưởng thành, nên nhận thức về pháp luật chưa tốt. Xét thấy tuổi đời của các bị cáo còn rất trẻ, đã nhận thức được hành vi sai trái của mình; phạm tội do người khác rủ rê, đề xướng nên nhất thời phạm tội. Do đó, không nhất thiết phải xử phạt tù, cách ly khỏi đời sống xã hội đối với các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Phong NH. Áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật, cho các bị cáo được hưởng án treo; giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, gia đình của các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, để các bị cáo có điều kiện học tập, lao động, phấn đấu trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với các bị cáo: Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR và Nguyễn Hoàng Khánh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng các bị cáo này không cung cấp chứng cứ gì mới để Hội đồng xét xử xem xét, nên không có cơ sở xem xét kháng cáo của các bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo
của các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Phong NH; không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo: Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR và Nguyễn Hoàng Khánh D.
Các phần khác của Quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR và Nguyễn Hoàng Khánh D kháng cáo không chấp nhân nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Phong NH kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST, ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Tuyên bố:
Các bị cáo: Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phong NH và Nguyễn Hoàng Khánh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn D H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng TR 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
3. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Khánh D 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
5. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phong NH 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Hòa Tân Đông, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên và giao bị cáo Nguyễn Phong NH cho Ủy ban nhân dân phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên nơi bị các cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo Nguyễn Văn D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Hòa Tân Đông, thị xã Đông Hòa; gia đình bị cáo Nguyễn Phong NH có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Hòa Vinh, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Phong NH thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm: Giải quyết theo bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn D H, Nguyễn Đăng TR và Nguyễn Hoàng Khánh D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của Quyết định bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - TAND thị xã Đông Hòa; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Phòng TT,KT &THA; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Minh Quang |