vanban.org

Bản án 06/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 08/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Cẩm T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Cẩm T1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2024. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Cẩm T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06 /2025/HS-ST
Ngày: 08 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bá Dương

Ông Trần Văn Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy T - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường H xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thị Cẩm T1; Giới tính:Nữ. Sinh ngày: 09/10/1970 tại: T.Khánh Hòa; Nơi ĐKHKTT: Số A đường H, P.N, TP ., tỉnhKhánh Hòa; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/3/2017,bị Công an phường P, quận H, TP.Đà Nẵng ra Quyết định số 28/QĐ-XPHC xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau” bằng hình thức phạt tiền (đã chấp hành);Ngày 30/9/2024, bị TAND Q.N, TP.Đà Nẵng ra Quyết định số 28/2024/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cha:L (chết) và mẹ: Nguyễn Thị Thái L (chết).Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Bị cáo bắt giam ngày 19/11/2024 hiện tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

- Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Số A đường L, phường M, quận N, TP ., vắng mặt.

- Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Số A đường L, phường M, quận N, TP ., vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 03 giờ ngày 06/9/2024, khi đi ngang quán Cơm, Phở A 24h tại địa chỉ số A đường L, Q . N, TP.Đà Nẵng, Lê Thị Cẩm T1 phát hiện cửa khóa hờ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để kiếm tiền tiêu xài. Sau khi đột nhập vào quán, T1 đi đến quầy thu ngân, phát hiện 01 điện thoại di động Samsung A80 màu đen của anh Nguyễn Anh T2 và 01 máy tính tiền màu xanh của anh Nguyễn Mạnh C nên đã lén lút lấy trộm các tài sản trên. Sau khi ra khỏi quán, T1 thấy các tài sản trộm được không có giá trị nên đã cho một người thanh niên lái xe công nghệ ở gần đó (không rõ lai lịch, không nhớ địa điểm, chưa thu hồi được tài sản), rồi bỏ đi.

* Theo kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 26/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Q . N kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A80 màu đen; thời điểm định giá: Tháng 9/2024; kết luận về giá: 1.000.000 đồng. Máy tính tiền (máy quẹt thẻ) nhãn hiệu Mini Smart POS (SPO2) màu xanh; thời điểm định giá: Tháng 9/2024; kết luận về giá: 2.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 3.200.000 đồng .

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKS- NHS ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Thị Cẩm T1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố Lê Thị Cẩm T1 về tội danh như đã nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Cẩm T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị Cẩm T1 từ 06 đến 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2024.

* Về phần dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì nên không đề cập đến.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Lê Thị Cẩm T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau: Vào khoảng 03 giờ 20 phút ngày 06/9/2024 tại quán Cơm, Phở A 24h địa chỉ số A đường L, Q . N, TP.Đà Nẵng, Lê Thị Cẩm T1 đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung A80 màu đen của anh Nguyễn Anh T2 và 01 máy tính tiền nhãn hiệu Mini Smart POS (SPO2) của anh Nguyễn Mạnh C; tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.200.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy hết sức liều lĩnh và táo bạo. Bị cáo lợi dụng sơ hở lúc người bị hại đi vắng đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung A80 màu đen và 01 máy tính tiền nhãn hiệu Mini Smart POS (SPO2), tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.200.000 đồng. Hành vi phạm tội thuộc quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy cần xử phạt với bị cáo một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tính chất vụ án thì thấy, bị cáo Mặc D biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác khi không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện chiếm đoạt tài sản. Hành vi này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy bị cáo đã khai báo thành khẩn, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Về phần dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì nên không đề cập đến.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự 200.000đ.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Cẩm T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 BLHS; Điểm i,s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Cẩm T1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2024.

2. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ