vanban.org

Bản án 06/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Quốc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Quốc T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Quốc T tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Quốc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ
TÒ A Á N NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST
Ngày 17-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Chí Linh

2. Bà Lê Thị Cẩm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngộ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Quốc T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 17/3/1996 tại Bạc Liêu; nơi cư trú: Số F, Đường Đ, Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường B, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Phan Thị Kim H, sinh năm 1965; chưa có vợ và con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị khởi tố bị can ngày 19/02/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Bà Lương Ái N. Địa chỉ: Số I, Đường B, Khóm D, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường B, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt do xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phan Thị Kim H, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số F, Đường Đ, Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường B, tỉnh Cà Mau) (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phan Quốc T và Thạch T1 là bạn bè quen biết. Khoảng 21 giờ, ngày 19/11/2024, T1 nhờ T hoàn thiện hình xăm trên người mình, T kêu đưa 400.000 đồng để mua dụng cụ. T1 nói “Không có đủ tiền, bạn chở tôi lại nhà bạn lấy tiền cái”, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu MERITUS, màu xanh, biển kiểm soát 66H1-3015 chở T1 đến hẻm không tên phía sau trường mầm non H1 thông qua Đường Bà T2, Khóm D, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Khi vào trong hẻm một đoạn thì T1 xuống xe, còn T chạy xe ra đường Bà T2, thì dừng xe lại đối diện hẻm đợi, đồng thời nhìn về phía T1. Lúc này, cũng tại hẻm không tên, T nhìn thấy bà Lương Ái N đang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6, màu xám ngồi trên ghế đá trước nhà số I, Đường B, Khóm D, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phường B, tỉnh Cà Mau). Một lúc sau, T1 đi bộ từ hẻm ra giật lấy điện thoại của bà N thì bà N truy hô “Cướp, cướp”, T thấy T1 đang cầm điện thoại chạy về phía mình. Mặc dù, biết T1 giật điện thoại của người khác và đang bị truy đuổi nhưng T muốn giúp T1 chạy thoát liền điều khiển xe về phía trước để T1 nhảy lên, rồi tăng ga bỏ chạy. Trên đường đi, T1 ném bỏ điện thoại cướp giật được xuống đường, còn T tiếp tục chở T1 chạy về khu vực chợ N1 Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì ngã xe. T bị người dân bắt giữ, riêng T1 vứt lại nón bảo hiểm rồi nhảy xuống sông B lẫn trốn. Đối với bị hại bà Lương Ái N trên đường rượt đuổi T và T1 thì gặp người đàn ông (không rõ nhân thân) nhặt được điện thoại do T1 ném bỏ nên đưa lại cho bà N để giao nộp cho Công an phường C. Đến ngày 21/11/2024, Công an phường B phát hiện thi thể của Thạch T1 trên kênh xáng 30/4, Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 93/KL-HĐĐGTS, ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B xác định: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6, dung lượng 16GB, màu xám, gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt, có giá là 1.313.000 đồng”.

Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá của cơ quan chuyên môn.

Về thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6, màu xám cho bà Lương Ái N. Đối với 01 mô tô nhãn hiệu MERITUS, màu xanh, biển kiểm soát 66H1-3015 và 01 nón bảo hiểm màu trắng – đen, nhãn hiệu NÓN SƠN đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu quản lý.

Cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau) truy tố bị cáo Phan Quốc T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cà Mau giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Phan Quốc T và đề nghị xử lý như sau:

- Tuyên bố bị cáo Phan Quốc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Quốc T mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lương Ái N đã nhận lại tài sản bị cướp giật và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác nên không đặt ra vấn đề trách nhiệm dân sự để xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) nón bảo hiểm màu trắng – đen, có họa tiết hình nhện màu đen, nhãn hiệu “NÓN SƠN”, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bà Phan Thị Kim H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu MERIUS, màu xanh, số máy: VHU1P5FM002923, số khung: VTEWCH014UM102923, biển kiểm soát 66H1-3015, đã qua sử dụng.

- Bị cáo Phan Quốc T giữ nguyên các lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

- Bà Phan Thị Kim H yêu cầu nhận lại chiếc xe biển kiểm soát 66H1-3015 do chiếc xe này bà mua lại của người khác, khi bà cho T mượn xe bà không biết T lấy xe để đi cướp giật tài sản của người khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình truy điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Đối với bị hại bà Lương Ái N đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt do có đơn xin vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không cản trở cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị hại nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Quốc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19/11/2024 tại địa chỉ số I, Đường B, Khóm D, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phường B, tỉnh Cà Mau) Thạch T1 đi bộ từ hẻm ra giật lấy điện thoại của bà N đang ngồi trên băng ghế đá thì bà N truy hô “Cướp, cướp”, T thấy T1 đang cầm điện thoại chạy về phía mình. Mặc dù, biết T1 giật điện thoại của người khác và đang bị truy đuổi nhưng T muốn giúp T1 chạy thoát liền điều khiển xe về phía trước để T1 nhảy lên, rồi tăng ga bỏ chạy nhằm thoát khỏi sự truy đuổi của bị hại, do đó, bị cáo T đã có hành vi cướp giật điện thoại của bà Lương Ái N, theo Bản kết luận định giá tài sản số: 93/KL-HĐĐGTS, ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B xác định: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6, dung lượng 16GB, màu xám, gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt, có giá là 1.313.000 đồng”.

Bị cáo Phan Quốc T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết rõ hành vi công khai, nhanh chóng giật điện thoại của người khác và lên xe tẩu thoát là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo và Thạch T1 cùng thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau truy tố bị cáo về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bởi vậy cần thiết phải đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục nói riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung trong xã hội.

Xét vai trò của bị cáo thì thấy: Trong vụ án này bị cáo T không biết trước là Thạch T1 giật điện thoại của bị hại và khi thực hiện hành vi chở Thạch T1 nhằm mục đích giúp T1 tẩu thoát là bộc phát, không phải là người khởi xướng nên bị cáo chỉ chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của mình gây ra tương ứng với vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, năn năn hối cải, nhận thức được hành vi sai trái của mình; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy cần xử hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về hình phạt là phù hợp nên được chấp nhận.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phan Quốc T, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 252/QĐ-XPHC ngày 26/12/2024 là có căn cứ.

Đối với Thạch T1 thực hiện hành vi phạm tội cùng với Phan Quốc T đã chết nên không đề cập xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lương Ái N đã nhận lại tài sản bị cướp giật, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu MERIUS, màu xanh, số máy: VHU1P5FM002923, số khung: VTEWCH014UM102923, biển kiểm soát 66H1-3015, đã qua sử dụng. Qua tra cứu chủ sở hữu chiếc xe là ông Nguyễn Hoàng E, địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 13/02/2025 ông Nguyễn Hoàng E không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không rõ, không có địa chỉ cụ thể, không liên lạc được nên không làm việc được với ông Hoàng E. Bà Phan Thị Kim H xác định chiếc xe này là của bà, vào khoảng tháng 5/2023 bà mua lại của người đàn ông không nhớ họ tên với số tiền 2.000.000 đồng nhưng không có sang tên chủ sở hữu, khi bán xe thì người đó có đưa giấy tờ xe cho bà, từ khi mua đến nay bà là người trực tiếp sử dụng, khi bị cáo T mượn xe của bà thì T nói mượn đi uống cà phê nên bà không biết được bị cáo T mượn xe đi thực hiện hành vi phạm tội nên bà xin được nhận lại chiếc xe. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù chiếc xe đăng ký sở hữu là ông Nguyễn Hoàng E, tuy nhiên hiện tại không làm việc được với ông E, bà H thì xác định chiếc xe này do bà mua lại của người khác và cho bị cáo mượn đi uống cà phê bà không biết bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên xét thấy cần trả lại chiếc xe cho bà Phan Thị Kim H là phù hợp.

Đối với 01 (Một) nón bảo hiểm màu trắng – đen, có họa tiết hình nhện màu đen, nhãn hiệu “NÓN SƠN”, đã qua sử dụng, có liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Phan Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Quốc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Quốc T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) nón bảo hiểm màu trắng – đen, có họa tiết hình nhện màu đen, nhãn hiệu “NÓN SƠN”, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bà Phan Thị Kim H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu MERIUS, màu xanh, số máy: VHU1P50FM002923, số khung: VTEWCH014UM102923, biển kiểm soát 66H1-3015, đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2025).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Quốc T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bản án hình sự sơ thẩm bi ̣ cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ