vanban.org

Bản án 06/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Anh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Anh N 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nhận được quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hà Anh Nhật - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Anh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST.
Ngày : 18 - 8 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Giàu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Hoa, nghề nghiệp: Cán bộ công chức.

Ông: Đinh Văn Nghin, nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ Đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Nghị, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Gia Lai tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Chí Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Gia Lai (Cơ sở 2), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS, ngày 11 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:

NGUYỄN HÀ ANH N, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2007, tại Đắk Lắk. Nơi thường trú: thôn T, xã A, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là thôn T, xã A, tỉnh Gia Lai); số căn cước công dân: 052207000085, cấp ngày 16/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980; chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: Ngày 06/6/2024, Nguyễn Hà Anh N bị Chủ tịch UBND xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 45/QĐ-XPHC, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mức phạt 1.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành xong; nhân thân: Ngày 12/12/2023, Nguyễn Hà Anh N bị Công an huyện An Lão xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích” tại Quyết định số 40/QĐ-CAH, bị cáo đã chấp hành xong; Ngày 10/4/2024, Nguyễn Hà Anh N bị Công an xã An Trung, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là xã An Vinh, tỉnh Gia Lai) xử phạt vi phạm hành chính, mức tiền phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo tại ngoại. “Có mặt”.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hà Anh N:

+ Ông: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện An Lão, tỉnh Bình Định. (Nay là thôn T, xã A, tỉnh Gia Lai), là cha ruột của bị cáo; “Vắng mặt”.

+ Bà: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện An Lão, tỉnh Bình Định. (Nay là thôn T, xã A, tỉnh Gia Lai), là mẹ ruột của bị cáo; “Có mặt”.

- Bị hại:

1. Bà: Nguyễn Thị H, sinh ngày 01/01/1967, nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là thôn T, xã A, tỉnh Gia Lai). “Vắng mặt”.

2. Bà: Trần Thị Thu Ái, sinh ngày 06/9/1975, nơi cư trú: thôn Tân An, xã An Tân, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là thôn Tân An, xã An Lão, tỉnh Gia Lai). “Vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Lê Thanh T, sinh ngày 08/8/2009, nơi cư trú: khu phố H, thị trấn An Lão, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là thôn H, xã An Lão, tỉnh Gia Lai). “Có mặt”.

2. Nguyễn Thị H, sinh ngày 01/01/1978, nơi cư trú: khu phố H, thị trấn An Lão, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là thôn H, xã An Lão, tỉnh Gia Lai). “Vắng mặt”.

- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Lê Thanh T: Bà: Lê Thị B, sinh ngày 02/5/1985, nơi cư trú: khu phố H, thị trấn An Lão, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là thôn H, xã An Lão, tỉnh Gia Lai), là mẹ ruột; “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 1 năm 2025, Nguyễn Hà Anh N đã cùng Nguyễn Lê Thanh T thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã An Tân, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Nay là xã An Lão, tỉnh Gia Lai):

Vụ thứ nhất: Chiều ngày 04/01/2025, Nguyễn Hà Anh N điều khiển xe mô tô Sirius mang biển số 77X6-3353 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thu H, chở Nguyễn Lê Thanh T đi dạo chơi quanh thị trấn An Lão (nay là xã An Lão). Trên đường đi, N nói với T “Kẹt tiền quá, tối nay đi kiếm bình xe đạp điện lấy trộm về bán lấy tiền tiêu xài”, Toàn đồng ý rồi N đi về nhà Nhật. Đến khoảng 00 giờ, ngày 05/01/2025, N điều khiển xe mô tô biển số 77X6-3353 chở T đi trên đường ĐT629, rẽ vào thôn Thanh Sơn, xã An Tân (nay là thôn Thanh Sơn, xã An Lão). Khi N phát hiện nhà bà Nguyễn Thị H ở bên phải đường không có cửa cổng ngõ, bên trong sân nhà có xe đạp điện đang dựng không có ai trông coi; N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên N nói cho T biết. Sau đó, N chở T đi tiếp để quan sát tình hình trên đường không, thì N chở T quay lại để lấy trộm; N dừng xe trên đường ở vị trí cách cầu khoảng 03 mét. N tắt máy xe và bảo T “xuống xe, vô dắt xe ra đây gỡ bình”; T xuống xe, đi bộ vào nhà bà H. T dắt 01 xe đạp điện màu đỏ - đen đang dựng trong hiên nhà ra chỗ N dừng xe. Tại đây có ánh sáng đèn ngoài hiên nhà của người dân gần đó chiếu ra, T trực tiếp dùng tay tháo nắp ốp nhựa chỗ gác chân và tháo bộ phận bình ắc quy của xe đạp điện; N ngồi trên xe quan sát cảnh giới, chờ T tháo bộ bình xe đạp điện. Khoảng 05 phút sau, T tháo xong bộ bình xe đạp điện là một hộp nhựa màu đen bên trong đựng 04 bình ắc quy. T bưng bộ bình xe đạp điện tháo trộm được để trên yên xe, phía sau lưng N. Sau đó, Toàn lắp ốp nhựa, dắt xe đạp điện vào dựng lại vị trí cũ trong hiên nhà bà H. Toàn ngồi lên xe ôm giữ bộ bình xe đạp điện vừa trộm được, để N chở đi về nhà N. Về đến nhà N, N đem cất giấu bộ bình xe đạp điện dưới các tấm gỗ bên hông nhà N; sau đó, N điều khiển xe chở T về nhà T ngủ, rồi N đi về nhà N ngủ.

Vụ thứ hai: Chiều ngày 06/01/2025, N và T đi bốc cây keo ở phường Bồng Sơn, Thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là phường Bồng Sơn, tỉnh Gia Lai) thì Nhật rủ T “Về kiếm bình lấy trộm, mai có tiền ăn” thì T đồng ý. Khoảng 01 giờ ngày 07/01/2025, N điều khiển xe mô tô sirius biển số 77X6-3353 chở T đi lòng vòng để tìm bình xe đạp điện lấy trộm; N chở T đi ngang qua nhà bà Trần Thị Thu Á, thì N và T phát hiện có một xe đạp điện dựng ngoài sân. N dừng xe máy cách nhà bà Á khoảng 05m, T xuống xe đi bộ đến nhà bà Á và dắt ra một xe đạp điện màu xanh đen được dựng cách chỗ N đứng khoảng 01m. N ngồi trên xe quan sát cảnh giới còn T trực tiếp dùng tay tháo lấy bộ bình xe đạp điện là một hộp nhựa màu đen bên trong đựng 04 bình ắc quy, rồi T ngồi lên xe ôm giữ bộ bình xe đạp điện vừa trộm cắp, để N chở đi về đến nhà T, N và T đem bộ bình xe đạp điện cất giấu bên hông nhà T và dùng bao nhựa màu trắng phủ lên trên để che giấu. Xong việc, T vào nhà ngủ còn N chạy xe về nhà N ngủ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 77X6-3353 đến nhà T chơi. Sau đó, T điều khiển xe chở N cùng với bộ bình xe đạp điện trộm cắp của bà Á, đến cơ sở thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị H để bán. Đến nơi, N đứng ngoài còn Toàn mang bộ bình xe đạp điện vô gặp bà Đào Lê Thị Duy N là người làm công cho bà H. T bán cho bà N lấy số tiền 320.000 đồng, cùng với N tiều xài cá nhân hết.

Bản Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS, ngày 17/02/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự xác định: Bộ bình xe đạp điện gồm 04 bình ắc quy đựng trong hộp nhựa màu đen bị mất ngày 05/01/2025 có giá trị là 1.267.000 đồng; Bộ bình xe đạp điện gồm 04 bình ắc quy đựng trong hộp nhựa màu đen bị mất ngày 07/01/2025 có giá trị là: 800.000 đồng.

Bản cáo trạng số 09/CT-VKSAL, ngày 06 tháng 6 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Gia Lai) đã truy tố bị cáo Nguyễn Hà Anh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và đề nghị:

- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Anh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 100 của Bộ luật Hình sự, Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Anh N từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Ý kiến của bị hại: Các bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt trình bày đã nhận lại đủ bình ắc quy điện bị mất trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi bị hại, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo ở nhà sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những bị hại và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 00 giờ, ngày 05/01/2025, Nguyễn Hà Anh N điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Lê Thanh T lén lút lấy trộm một bộ bình xe đạp điện của bà Nguyễn Thị H có giá trị 1.267.000 đồng. Sau đó, khoảng 01 giờ ngày 07/01/2025, Nguyễn Hà Anh N cùng với Nguyễn Lê Thanh T lén lút lấy trộm một bộ bình xe đạp điện của bà Trần Thị Thu Á có giá trị 800.000 đồng. Trước đó, bị cáo Nguyễn Hà Anh N bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” mà còn vi phạm. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão truy tố bị cáo Nguyễn Hà Anh N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Xét tính chất hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi chiếm đoạt tài sản mà bị cáo thực hiện là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó không những ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, làm mất an toàn xã hội ở địa phương, mà còn gây ra tâm trạng lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có sức khoẻ, nhiều lần bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, lần gần nhất là vào ngày 06/6/2024 bị cáo bị Chủ tịch UBND xã An Hưng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mức phạt 1.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành xong, lẽ ra bị cáo phải tu dưỡng, rèn luyện, lo ăn học, lo làm ăn chính đáng, đằng này bị cáo lợi dụng đêm tối và sơ hở của những người bị hại, tiếp tục thực hiện 02 hành vi chiếm đoạt 02 bộ bình xe đạp điện có tổng giá trị 2.067.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị áp dụng hình phạt tương xứng và thật nghiêm khắc, thì mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Gia đình của bị cáo đã tự nguyện trả tiền cho bà H 320.000 đồng; trong quá trình điều tra bị cáo đã trả lại tài sản cho bị hại; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong đơn xin xét xử vắng mặt bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, xét thấy để tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện và việc đấu tranh và phòng, chống tội phạm trên địa bàn vì vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên HĐXX nhận thấy rằng, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, tại phiên toà bị cáo rất ăn năn hối cải; xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án; tạo điều kiện cho bị cáo sữa chửa, hoà nhập cộng đồng và rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nên HĐXX miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại bình ắc quy điện bị mất, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H đã nhận lại đủ số tiền 320.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên HĐXX không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Gia Lai đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp với nhận định của HĐXX, nên chấp nhận.

Đối với Nguyễn Lê Thanh T: đã cùng bị cáo Nguyễn Hà Anh N thực hiện hành vi trộm cắp bình xe đạp điện. Tuy nhiên, hành vi trộm cắp của T thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại thời điểm thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản, T chưa đủ 16 tuổi. Theo quy định tại Điều 12 của BLHS, Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 100 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào Điều 12, Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024;

Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Anh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Anh N 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nhận được quyết định thi hành án.

Giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho Uỷ ban nhân dân xã An Vinh, tỉnh Gia Lai, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã An Vinh trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Hà Anh N.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hà Anh N phải nộp án phí 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kế từ bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ