vanban.org

Bản án 06/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Bế Hải Ch 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2024.

Xử phạt: Bị cáo Lục Quang Tr 02 năm 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2024. Về án phí: Các bị cáo Bế Hải Ch và Lục Quang Tr mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Hải Ch và Lục Quang Tr trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Bế Hải Ch 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KHÁNH VĨNH
TỈNH KHÁNH HÒA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST
Ngày 20 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Xuân Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Cường

Bà Pi Năng Thị Thượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Trương Ngọc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bế Hải Ch (Tên gọi khác: không có), sinh ngày 19/5/1997 tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Bến Khế, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Ích Thọ và bà Triệu Thị Mít; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 29/9/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Lục Quang Tr (Tên gọi khác: không có), sinh ngày 28/11/2001 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn Bắc Sông Giang, xã Khánh Trung, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn Đôi và bà Hoàng Thị Thắm; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 29/9/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

1. Bà Triệu Thị Th; sinh năm 1981; Nơi cư trú: Đội 2, thôn A Xay, xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bà Lã Thị B; sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn Bến Khế, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông K Nai Y Th; sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Hòn Lay, xã Khánh Hiệp, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

4. Bà M Căng H L; Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn Hòn Lay, xã Khánh Hiệp, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 1999; Nơi thường trú: 137 Nguyễn Văn Linh, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; Nơi tạm trú: 101/20 đường 2/4, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn Hoàng L; sinh năm 1996; Nơi cư trú: Tổ 24 Hòn Chồng, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

3. Bà Trần Thị Diễm M; sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ 12 Vĩnh Điềm Thượng, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

4. Ông Nông Văn T; sinh năm 1999; Nơi cư trú: Đội 2, thôn A Xay, xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt tại phiên tòa.

5. Hoàng Thị Th, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn Bắc Sông Giang, xã Khánh Trung, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, có mặt tại phiên tòa.

6. Triệu Thị M; sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn Bến Khế, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

7. Ông Bế Ích Ng; sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn Bến Khế, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đêm ngày 26/9/2024, Bế Hải Ch và Lục Quang Tr ngủ ở tiệm rửa xe của Tr và Nguyễn Văn Tr (bạn T, Ch) thuộc Tổ 4, Thị trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh. Khoảng 01 giờ ngày 27/9/2024, Bế Hải Ch thức dậy rủ Lục Quang Tr đi tìm nhà nào sơ hở trộm cắp xe mô tô, Tr đồng ý. Sau đó, Tr điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Wave RSX gắn biển kiểm soát 93P1-381.82 (của ông Trương Quốc L đánh rơi khoảng tháng 6/2024 tại Tỉnh lộ 8, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh), mang theo 01 (một) kềm cộng lực chở Bế Hải Ch đi từ Thị trấn Khánh Vĩnh đến xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh theo Tỉnh lộ 8B tìm xe mô tô trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà bà Triệu Thị Th thuộc thôn A Xay, xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, Ch phát hiện có xe mô tô đang để trong sân nên nói Tr quay lại. Khi Trường điều khiển xe quay lại trước cổng nhà bà Th, Trường đứng ngoài đường cảnh giới còn Ch đi xuống kiểm tra, thấy khóa cổng bên trong nên đã leo cổng vào bên trong rồi nói Tr lấy kềm cộng lực đưa cho để cắt ổ khóa cổng. Sau khi cắt ổ khóa cổng, Ch đưa kềm cho Tr cất rồi đi vào trong sân, thấy bên cạnh nhà bà Th đang dựng 03 (ba) chiếc xe mô tô ở trong sân (01 chiếc xe hiệu Sirius màu trắng xanh, 01 chiếc xe hiệu Dream màu đen và một chiếc xe Honda loại Vision màu bạc biển kiểm soát 79KA-008.80), Ch đi ra cổng hỏi Tr “Bây giờ chiếc Sirius với chiếc Vision lấy chiếc nào?”, Tr nói “Lấy chiếc Vision”. Ch vào dắt chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu bạc biển kiểm soát 79KA-008.80 ra cổng, Ch ngồi lên xe mô tô 79KA-008.80. Trường điều khiển xe mô tô Honda loại Wave RSX (gắn biển kiểm soát 93P1-381.82) đẩy quay về hướng Thị trấn Khánh Vĩnh rồi đi theo Quốc lộ 27C xuống Thành phố Nha Trang. Khi đến khu vực vắng nhà dân gần quán cơm Năm Rô thuộc xã Sông Cầu, huyện Khánh Vĩnh, Ch và Tr dừng lại kiểm tra, thấy trong cốp xe mô tô 79KA-008.80 có 01 bọc nhựa, bên trong có căn cước công dân mang tên Triệu Thị Th, giấy tờ xe mô tô 79KA-008.80 và một số giấy tờ khác. Sau đó, Châu ngồi lên xe mô tô 79KA-008.80 để Tr điều khiển xe mô tô Honda loại Wave RSX gắn biển kiểm soát 93P1-381.82 tiếp tục đẩy quay về tiệm rửa xe của Tr để cất giấu.

Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Bế Hải Ch ngồi lên xe mô tô biển kiểm soát 79KA-008.80 để Lục Quang Trường điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại SH Mode màu đỏ biển kiểm soát 79X1-142.54 (của Châu) đẩy xuống đến khu vực bến xe phía Nam cũ - Thành phố Nha Trang thay ổ khóa rồi cả hai điều khiển xe mô tô đến quán cà phê Minalo tại số 779 đường Lê Hồng Phong, phường Phước Long, Thành phố Nha Trang uống nước. Tại đây, Bế Hải Ch dùng tài khoản Facebook trên điện thoại di động của mình đăng bán chiếc xe mô tô 79KA-008.80 trên trang “Mua bán xe máy Nha Trang 79”. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Bế Hải Ch và Lục Quang Tr bán chiếc xe mô tô 79KA-008.80 cho Nguyễn Tấn Phát với giá 29.000.000 đồng (Hai mươi chín triệu đồng), Phát đưa 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng) tiền mặt, chuyển số tiền 22.500.000 đồng vào tài khoản tại Ngân hàng Techcombank của Bế Hải Ch.

Ngày 28/9/2024, Nguyễn Tấn Ph phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu bạc biển kiểm soát 79KA-008.80 của bà Triệu Thị Thư bị trộm cắp vào ngày 27/9/2024 nên đã đưa xe mô tô đến Công an xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh giao nộp.

Quá trình mở rộng điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chứng minh được, ngoài vụ trộm cắp trên, vào ngày 14/9/2024 và ngày 18/9/2024, Bế Hải Ch cùng Lục Quang Tr còn trộm cắp 04 (bốn) xe mô tô khác, cụ thể:

- Khoảng 01 giờ ngày 14/9/2024, Bế Hải Ch rủ Lục Quang Tr đi trộm cắp xe mô tô, Tr đồng ý. Ch điều khiển xe mô tô Wave biển kiểm soát 79L7-0696 (của bà Triệu Thị M – mẹ Ch) chở Lục Quang Tr đến nhà ông Lã Phương N thuộc thôn Bến Khế, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, Trường đứng ngoài cảnh giới còn Ch ra phía sau nhà dắt xe mô tô Honda loại Wave RSX biển kiểm soát 79X1-027.93 của bà Lã Thị B (Cô của N) ra ngoài đường rồi ngồi lên xe mô tô 79X1-027.93 để Trường điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79L7-0696 đẩy quay về đến khu vực đường K25 thuộc xã Khánh Hiệp, Tr mở mặt nạ xe đấu dây điện cho nổ máy rồi cả hai điều khiển xe mô tô về tiệm rửa xe. Đến sáng cùng ngày cả hai tháo dàn áo xe, gắn biển kiểm soát 93P1-381.82 vào xe để sử dụng.

- Khoảng 01 giờ ngày 18/9/2024, Lục Quang Tr rủ Bế Hải Ch đi trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài. Tr điều khiển xe mô tô Wave RSX gắn biển kiểm soát 93P1-381.82 chở Ch đến nhà bà K Nai Y Ng thuộc thôn Hòn Lay, xã Khánh Hiệp, huyện Khánh Vĩnh, thấy nhà không khóa cổng, bên trong sân dựng 01 (một) chiếc xe mô tô Honda loại Blade (C) màu đen xanh biển kiểm soát 79X1-157.11; 01(một) chiếc xe mô tô J-PAN loại RC Sirus màu đen biển kiểm soát 79KA-005.50 của bà M Căng H L và 01 (một) chiếc xe mô tô Honda loại Blade màu đen đỏ biển kiểm soát 79X1-090.11 của ông K Nai Y Th. Ch và Tr trộm cắp 03 (ba) xe mô tô mang đến khu vực rẫy keo cách nhà bà Ng khoảng 700 mét, Tr mở mặt nạ xe đấu dây điện cho nổ máy rồi cả hai lần lượt điều khiển 03 (ba) xe trộm cắp được về tiệm rửa xe cất giấu. Sáng ngày 18/9/2024, Châu và Tr tráo biển số của hai xe mô tô Honda loại Blade (C) màu đen xanh và xe mô tô J-PAN loại RC Sirus màu đen với nhau. Đến trưa, Bế Hải Ch dùng tài khoản Facebook của mình trên điện thoại di động đăng chiếc xe mô tô Honda loại Blade (C) màu đen xanh gắn biển kiểm soát 79KA-005.50 trên trang “Mua bán xe máy Nha Trang 79” rồi bán cho một nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân lai lịch) tại khu vực cổng chào huyện Khánh Vĩnh với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Khoảng 18 giờ cùng ngày, Bế Hải Ch tiếp tục đăng chiếc xe mô tô Honda loại Blade màu đen đỏ biển kiểm soát 79X1-090.11 trên trang “Mua bán xe máy Nha Trang 79” rồi bán xe cho anh Nguyễn Hoàng L tại Bến xe liên tỉnh phía Nam Nha Trang (huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa) với số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm ngàn đồng).

Khoảng 19 giờ ngày 20/9/2024, Bế Hải Ch tiếp tục vào Facebook của mình đăng chiếc xe mô tô J-PAN loại RC Sirus màu đen gắn biển kiểm soát 79X1-157.11 trên trang “Mua bán xe máy Nha Trang 79” rồi Ch và Tr mang xe mô tô trên đến khu vực Bến xe liên tỉnh phía Nam Nha Trang (huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa), bán cho chị Trần Thị Diễm M với số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm ngàn đồng). Toàn bộ số tiền bán 03 (ba) xe mô tô, Châu giữ lấy và chia cho Tr 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), cả hai đã tiêu xài hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 62 ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Khánh Vĩnh xác định trị giá của chiếc xe mô tô 79KA-008.80 là 33.750.000 đồng (Ba mươi ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) (BL: 159-161).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 71 ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Khánh Vĩnh xác định trị giá của chiếc xe mô tô Wave RSX biển kiểm soát 79X1-027.93 là 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) (BL: 184-186).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 73 ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Khánh Vĩnh xác định trị giá của chiếc xe mô tô nhãn hiệu J-PAN loại SIRUS màu sơn đen là 8.100.000 đồng (Tám triệu một trăm ngàn đồng); trị giá của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade màu đen đỏ là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); trị giá của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade (C) màu đen xanh là 19.530.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng) (BL: 207-210).

- Về xử lý vật chứng và bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Wave RSX gắn biển kiểm soát 93P1-381.82; 01 (một) biển kiểm soát 79X1-027.93 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (bà Lã Thị Bày và ông Trương Quốc L); 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Blade màu đen đỏ biển kiểm soát 79X1-090.11 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (ông K Nai Y Th); 01 (một) xe mô tô hiệu J-PAN loại RC Sirus màu đen gắn biển kiểm soát 79X1-157.11 đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (bà M Căng H L); 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu bạc biển kiểm soát 79KA-008.80, 01 (một) căn cước công dân mang tên Triệu Thị Th, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 79X1-105.10, 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Triệu Thị Th, 01 (một) thẻ ATM Sacombank mang tên Nông Văn T, 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nông Văn T, 01 (một) thẻ ATM Vietinbank mang tên Nông Văn T, 01 (một) căn cước công dân mang tên Nông Văn Tùng; 01 (một) bảo hiểm xe mô tô 79KA-00880; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nông Văn T, 01 (một) thẻ ATM Vietcombank mang tên Nông Văn T, 01 (một) thẻ sinh viên mang tên Nông Văn T đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (bà Triệu Thị Th); 01 (một) kềm cộng lực hiệu Total, trên kềm có ghi ký hiệu THSCO12 màu xanh đen (Hiện đang tạm giữ tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh); Số tiền 14.800.000 đồng (Mười bốn triệu tám trăm ngàn đồng) (đang tạm giữ tại Kho bạc nhà nước); phong tỏa số tiền 14.208.072 đồng (Mười bốn triệu hai trăm lẻ tám ngàn không trăm bảy mươi hai đồng) trong tài khoản của Bế Hải Ch tại Ngân hàng Techcombank.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSKV ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Bế Hải Ch và Lục Quang Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Bế Hải Ch và Lục Quang Tr về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Bế Hải Ch từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; xử phạt bị cáo Lục Quang Tr từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.

Về bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 kềm cộng lực.

+ Đối với số tiền 14.800.000 đồng (đang tạm giữ tại Kho bạc nhà nước) thu giữ của bị cáo Bế Hải Ch. Đây là tiền do bán xe trộm cắp mà có nên đề nghị tuyên tịch thu sung công.

+ Đối với số tiền 14.208.072 đồng trong tài khoản của Bế Hải Ch tại Ngân hàng Techcombank đang bị phong tỏa, đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Bế Hải Ch số tiền 14.000.000 đồng vì đây là số tiền của ông Bế Ích Ng (anh trai bị cáo Châu) chuyển cho mượn để bị cáo bồi thường cho bị hại và tịch thu sung công số tiền 208.072 đồng còn lại.

Các bị cáo Bế Hải Ch và Lục Quang Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Bế Hải Ch và Lục Quang Tr khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh nên không có ý kiến tranh luận gì thêm và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Các bị cáo Bế Hải Châu và Lục Quang Tr thống nhất với nhau đi trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, các bị cáo đã trộm cắp được 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu bạc biển kiểm soát 79KA-008.80 trị giá 33.750.000 đồng của bà Triệu Thị Th; 01 (một) xe Honda loại Wave RSX biển kiểm soát 79X1-027.93 trị giá 4.400.00 đồng của bà Lã Thị B; 01(một) chiếc xe mô tô J-PAN loại RC Sirus màu đen biển kiểm soát 79KA-005.50 của bà M Căng H Lý trị giá 8.100.000 đồng; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Blade màu đen đỏ biển kiểm soát 79X1-090.11 của ông K Nai Y Th trị giá 10.000.000 đồng; 01 (một) chiếc xe mô tô Honda loại Blade (C) màu đen xanh biển kiểm soát 79X1-157.11 trị giá 19.530.000 đồng của bà M Căng H L. Tổng cộng các bị cáo trộm cắp tài sản có trị giá 75.780.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo thực hiện 05 lần trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, nhưng số tiền đó không phải là nguồn sống chính, các bị cáo có thu nhập, gia đình chu cấp sinh hoạt thêm vì các bị cáo chưa lập gia đình nên còn phụ thuộc cha mẹ nên không có căn cứ xem xét tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét đến nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo để xử phạt cho phù hợp.

Về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, rủ rê lẫn nhau để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Tuy nhiên, tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và nhân thân của các bị cáo là khác nhau nên cần đánh giá để lượng hình cho phù hợp.

Đối với bị cáo Bế Hải Ch:

Bị cáo là người 02 lần rủ bị cáo Tr đi trộm cắp được 02 xe máy, là người trực tiếp lấy tài sản và chủ động đăng thông tin bán xe lên facebook nên mức án cao hơn bị cáo Tr. Sau khi phạm tội đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, điều đó thể hiện qua lời khai của bị cáo và gia đình tại phiên tòa; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có thời gian nhập ngũ phục vụ quân đội, là sĩ quan dự bị và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất. Do vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo Lục Quang Tr:

Trong 02 lần bị cáo Trường rủ đi trộm cắp, bị cáo đồng ý ngay, bị cáo chở và đứng ngoài chờ Ch vào lấy xe máy, ngoài ra bị cáo có 01 lần rủ bị cáo Ch trộm cắp 03 xe mô tô. Bị cáo tích cực thực hiện hành vi phạm tội, có một lần trực tiếp bán xe mô tô trộm cắp được, được chia tiền ngang nhau với bị cáo Ch khi bán được xe trộm cắp. Hành vi của bị cáo có phần hạn chế hơn nên cần xử mức án nhẹ hơn bị cáo Ch. Sau khi phạm tội đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, điều đó thể hiện qua lời khai của bị cáo và gia đình tại phiên tòa; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất. Do vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với hành vi của ông Nguyễn Tấn Ph, Nguyễn Hoàng L, bà Trần Thị Diễm M khi mua xe không biết xe do các bị cáo trộm cắp nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không truy tố là có căn cứ.

Đối với hành vi gian dối khi bán xe trộm cắp của các bị cáo, Cơ quan điều tra công an huyện Khánh Vĩnh đã thông báo Cơ quan điều tra công an huyện Diên Khánh và thành phố Nha Trang xử lý là đúng với quy định của pháp luật.

Về bồi thường dân sự: Bị hại bà Triệu Thị Th, Lã Thị Bày, M Căng H L và ông K Nai Y Th khai đã nhận lại tài sản bị mất, đã nhận tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Diễm M, ông Nguyễn Hoàng L và ông Nguyễn Tấn Ph đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

- Các vật chứng vụ án cơ quan điều tra đã xử lý đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với vật chứng vụ án: 01 (một) kiềm cộng lực hiệu Total có ghi ký hiệu THSCO12 màu xanh đen không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 giữa cơ quan điều tra công an huyện Khánh Vĩnh với Chi cục thi hành án huyện Khánh Vĩnh).

- Đối với khoản tiền 14.208.072 đồng trong tài khoản 19038307833016 tại ngân hàng Techcombank trung tâm Miền Bắc của bị cáo Bế Hải Ch, Hội đồng xét xử xét thấy số tiền 14.000.000 đồng của ông Bế Ích Ng là anh trai bị cáo Ch chuyển cho mượn để bị cáo bồi thường cho bị hại, đến nay bị cáo đã bồi thường toàn bộ, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thêm nên cần gỡ phong tỏa tài khoản trả lại số tiền trên cho bị cáo, số tiền còn lại 208.072 đồng bị cáo bán tài sản trộm cắp có được nên tịch thu sung quỹ nhà nước trả cho bị cáo thẻ ATM số 4211498644327132.

- Đối với khoảng tiền 14.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Bế Hải Ch theo quyết định tạm giữ tài sản số 319/QĐ-ĐTTH ngày 29/9/2024 của Cơ quan điều tra công an huyện Khánh Vĩnh và Giấy nộp tiền vào ngân hàng Agribank chi nhánh Khánh Vĩnh ngày 25/11/2024, đây là số tiền bị cáo Bế Hải Ch có được do bán tài sản trộm cắp nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Bế Hải Ch và Lục Quang Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 36, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với Bế Hải Ch và Lục Quang Tr.

- Xử phạt: Bị cáo Bế Hải Ch 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2024.

- Xử phạt: Bị cáo Lục Quang Tr 02 năm 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2024.

2. Về án phí: Các bị cáo Bế Hải Ch và Lục Quang Tr mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) kiềm cộng lực hiệu Total có ghi ký hiệu THSCO12 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 giữa cơ quan điều tra công an huyện Khánh Vĩnh với Chi cục thi hành án huyện Khánh Vĩnh).

- Gỡ phong tỏa tài khoản và trả lại cho bị cáo Bế Hải Ch 14.000.000 đồng trong tài khoản 19038307833016 tại ngân hàng Techcombank trung tâm Miền Bắc.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 14.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Bế Hải Ch theo quyết định tạm giữ tài sản số 319/QĐ-ĐTTH ngày 29/9/2024 của Cơ quan điều tra công an huyện Khánh Vĩnh và Giấy nộp tiền vào ngân hàng Agribank chi nhánh Khánh Vĩnh ngày 25/11/2024.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 208.072 đồng trong tài khoản 19038307833016 tại ngân hàng Techcombank trung tâm Miền Bắc của bị cáo Bế Hải Ch. Trả thẻ ATM số 4211498644327132 cho bị cáo Bế Hải Ch.

3. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ