- Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 29/8/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thành
2. Ông Nguyễn Hữu Thư
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân Trang, là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST- HS, ngày 21 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 04/2025/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo: Trần Thanh T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 12/11/1989 tại xã C, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn P, xã C, tỉnh Thanh Hóa. CCCD số: 03809010962, cấp ngày 10/6/2021 tại Cục CSQLHC&TTXH. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Quốc T1 và con bà Lữ Thị T2. Có vợ là Lê Thị L và 02 con, con lớn sinh năm 2018,con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi noi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Anh T3, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Thôn P, xã C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
2. Chị Lê Thị L, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Thôn P, xã C, tỉnh Thanh Hóa Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu năm 2023, Trần Thanh T lên mạng mua súng hơi để đi săn bắn. Sau khi xem được một kênh Youtube đăng video rao bán súng và các loại linh kiện, Trần Thanh T đã liên hệ theo số điện thoại của người bán để mua súng và đạn. Người bán đồng ý bán 01 khẩu súng hơi cho Trần Thanh T nhưng sẽ giao linh kiện thành nhiều lần qua xe khách để T tự lắp ráp. Các bộ phận, linh kiện của súng được người bán bỏ vào thùng cát tông dán kín. Trần Thanh T thanh toán tiền mặt cho người bán qua nhà xe. Tổng số tiền mua các bộ phận súng, đạn, bơm hơi là khoảng 3 triệu đồng.
Sau khi nhận được đầy đủ các bộ phận súng, Trần Thanh T đã liên hệ với người bán súng để được hướng dẫn cách lắp ráp thành một khẩu súng hoàn chỉnh. Lắp ráp súng xong, Trần Thanh T sử dụng bơm để bơm hơi vào bình và dùng đạn lắp vào súng để bắn chim. Trần Thanh T bỏ súng vào bì cất giấu ở góc nhà kho trong nhà trọ của mình ở thôn P, xã C, huyện C (nay là xã C, tỉnh Thanh Hóa). Đến khoảng tháng 01/2025, Trần Thanh T biết khẩu súng mình đang cất giấu thuộc loại vũ khí quân dụng, lo sợ bị phát hiện, xử lý nên T đã tháo rời các bộ phận súng ra bỏ vào bì cất giấu ở vị trí cũ, không sử dụng nữa. Còn bơm hơi do lâu ngày không sử dụng bị hỏng nên T đã cho người mua đồng nát.
Tại Kết luận giám định số 1503/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- 01 thân súng có kí hiệu: “AIRFORCE airguns SB2305 Made In USA”, “xS8884” và bộ phận cò súng là linh kiện cơ bản của súng nén hơi, thuộc vũ khí quân dụng.
- 05 vật dạng hình nấm bằng kim loại màu xám là đạn súng nén hơi, nén khí, thuộc vũ khí quân dụng.
- 01 vật có kích thước 12,5x7,5x3,5cm; 01 vật có kích thước 19x3x3cm và 01 vật có kí hiệu “Air 103484” là các chi tiết (bộ phận) của súng nén hơi, không thuộc vũ khí quân dụng.
- 01 vật có kí hiệu “Bushnell” thường được sử dụng cho súng nén hơi, không thuộc vũ khí quân dụng.
Về nguồn gốc của các linh kiện súng và đạn đã thu giữ, Trần Thanh T khai dùng sim rác liên lạc với người bán súng qua số điện thoại, sau đó T đã vứt sim này đi nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh làm rõ được đối tượng đã bán cho T.
Đối với hành vi mua bán 01 khẩu súng và 05 viên đạn của Trần Thanh T vào năm 2023, thời điểm này Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 chưa có hiệu lực. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với bị can về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng là đảm bảo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Đối với 05 viên đạn và các bộ phận của súng, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T tiếp tục bảo quản chờ xử lý.
Cáo trạng số 65/CT-VKS-P1, ngày 16 tháng 7 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thanh Hóa giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: 05 viên đạn và các bộ phận của súng, đề nghị giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan ANĐT Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:
Vào ngày 25/4/2025, bị cáo Trần Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 thân súng, cò súng và 05 viên đạn của súng nén hơi thuộc loại vũ khí quân dụng tại thôn P, xã C, tỉnh Thanh Hóa. Nay bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, đã thành khẩn khai báo mong được sự khoan hồng của pháp luật.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 304 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi của bị cáo nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước, cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã đầu thú, có bố đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ Quốc tế tại Campuchia. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, nên chưa cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát và giáo dục để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 vật không rõ hình bằng gỗ màu đen, kích thước (12,5x7,5x3,5)cm;
- 01 vật không rõ hình bằng gỗ màu đen, kích thước (19x3x3x)cm;
- 01 vật hình trụ tròn bằng kim loại màu đen, dài 20,5cm, đường kính ngoài 03cm, có ký hiệu “Bushnell”;
- 01 vật hình trụ tròn rỗng bằng kim loại màu đen và màu xám, dài 40cm, đường kính ngoài chỗ rộng nhất 06cm, có ký hiệu “Air 103484” và hệ thống van;
- 01 thân súng bằng kim loại màu đen, kích thước (38x10,5x3,1)cm, ký hiệu “AIRFORCE airguns SB 2305 Made In USA”, "XS8884", có hệ thống cò súng, nòng súng bằng kim loại màu xám dài 45,8cm, đường kính trong 6,35mm, trong nòng súng có đường rãnh xoắn (đường khương tuyến);
- 05 vật bằng kim loại màu xám, hình dạng nấm, không có ký hiệu, kích thước các vật không đều nhau, vật lớn nhất có kích thước (9,5x6,7)mm, vật nhỏ nhất có kích thước (8x5,8)mm.
Là vật chứng của vụ án, vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 304, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
1. Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Thanh Hoá giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo cho Công an xã C, tỉnh Thanh Hoá giám sát trong thời gian thử thách.
Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thanh T.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 vật không rõ hình bằng gỗ màu đen, kích thước (12,5x7,5x3,5)cm;
- 01 vật không rõ hình bằng gỗ màu đen, kích thước (19x3x3x)cm;
- 01 vật hình trụ tròn bằng kim loại màu đen, dài 20,5cm, đường kính ngoài 03cm, có ký hiệu “Bushnell”;
- 01 vật hình trụ tròn rỗng bằng kim loại màu đen và màu xám, dài 40cm, đường kính ngoài chỗ rộng nhất 06cm, có ký hiệu “Air 103484” và hệ thống van;
- 01 thân súng bằng kim loại màu đen, kích thước (38x10,5x3,1)cm, ký hiệu “AIRFORCE airguns SB 2305 MadeIn USA”, "XS8884", có hệ thống cò súng, nòng súng bằng kim loại màu xám dài 45,8cm, đường kính trong 6,35cm, trong nòng súng có đường rãnh xoắn (đường khương tuyến);
- 05 vật bằng kim loại màu xám, hình dạng nấm, không có ký hiệu, kích thước các vật không đều nhau, vật lớn nhất có kích thước (9,5x6,7)mm, vật nhỏ nhất có kích thước (8x5,8)mm.
Giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh T tiêu huỷ theo quy định của pháp luật. Theo biên bản đóng gói niêm phong giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 28/4/2025, tại Phòng PC 09 Công an tỉnh T. 3. Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thanh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 12 – Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - UBND xã Cẩm Tân, Thanh Hoá; - Công an xã Cẩm Tân, Thanh Hoá; - Bộ phận THA Tòa án; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thành Phƣơng Nguyễn Lộc | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Ánh Tuyết THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tân |