- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công L - phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (điều 189 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 189 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày: 30-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Văn Vũ Biên Cương.
Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Yến, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Hiền Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Công L, sinh ngày 01-01-1977 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiê ̣p: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1937 (chết) và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1940 (sống); Có vợ Lê Thị Thanh H, sinh năm 1978; Có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2017; có 08 anh chị em; bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 25-02-2025; tạm giam: Ngày 28-02-2025.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại Tạm giam số 01 Công an tỉnh Đ; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 20 phút, ngày 24-02-2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có nhóm người đang vận chuyển trâu từ Campuchia về Việt Nam tại khu vực trước Chợ mua bán trâu, bò cặp bờ sông S đường tuần tra biên giới cách Trạm Biên phòng B khoảng 150m thuộc ấp C, xã T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phối hợp với Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế D1, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế D1, Đội Kiểm soát Hải quan tỉnh Đồng Tháp, Công an huyện T và Công an xã T tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Công L đang vận chuyển trái phép 34 con trâu từ bờ phía Campuchia lội qua sông Sở Hạ lên bờ phía Việt Nam. Thời điểm này, có mặt Trần Kim T1 là Phó Trạm trưởng Trạm Biên phòng B đang ngồi trên bờ khoảng 10m rọi đèn pin theo dõi bị cáo L cùng một số người Campuchia đang lùa trâu từ Campuchia qua Việt Nam nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 23 giờ 30 phút cùng ngày.
Vật chứng của vụ án thu giữ:
- 34 con trâu còn sống, chưa kiểm tra khối lượng và tình trạng sức khoẻ từng cá thể.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo 136 màu đen, gắn sim số 0965.330.478 và 01 đèn pin màu đen dài 23cm; cao 8,5cm; rộng 07cm của Trần Kim T1.
- 01 điện thoại điện thoại hiệu Masstel màu đen; gắn sim số 0354.711.848; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh; gắn sim số 0335.02.02.44 và 01 đèn pin màu đen dài 06cm; ngang 07cm; rộng 3,5cm của bị cáo Nguyễn Công L.
Sáng ngày 25-02-2025, cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ tiên hành cân 34 con trâu còn sống có tổng khối lượng 10.200kg.
Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 28-02-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Trị giá 10.200kg trâu hơi đen x 43.000đồng/1kg = 438.600.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Công L khai nhận: Có quen biết với Cao Minh D, sinh năm 1975, nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp) nên bị cáo L được D thuê giữ, chăm sóc trâu, bò cho D tại khu vực ấp C, xã T với tiền công là 4.000.000 đồng một tháng. Khoảng 14 giờ, ngày 24-02-2025, D dặn bị cáo L: Tối nay đến khu vực trước Chợ mua bán trâu, bò cặp bờ sông S thuộc địa phận ấp C, xã T đón nhận trâu của một số đối tượng C đưa qua biên giới từ bờ Campuchia qua sông S lên bờ Việt Nam rồi dắt trâu vào chuồng của D tại Chợ mua bán trâu, bò và bị cáo L đồng ý. Đến khoảng hơn 22 giờ, D gọi điện thoại cho bị cáo L hỏi trâu qua chưa, lúc này bị cáo L đang có mặt tại cặp bờ sông S Hạ trước Chợ mua bán trâu, bò rọi đèn pin thấy có đối tượng người Campuchia lùa đánh 02 con trâu từ bờ Campuchia xuống sông S, trâu tự lội qua bờ Việt Nam nên bị cáo L dắt cột vào gốc cây me đất bên lề đường tuần tra biên giới, đồng thời bị cáo L thấy bên bờ Campuchia có nhiều trâu đang tập kết lội qua sông nên bị cáo L gọi Z (lưu tên Thành L1) cho D (lưu tên Cao Minh D) nói là trâu đang qua. Thời điểm này có mặt Trần Kim T1 là Phó Trạm trưởng Trạm Biên phòng B cũng đang ngồi trên bờ rọi đèn pin theo dõi bị cáo L cùng một số người Campuchia lùa trâu qua sông. Đến 23 giờ 30 phút, thì bị lực lượng chức năng phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật là 34 con trâu còn sống.
Quá trình điều tra tạm giữ tang vật và đã xử lý như sau:
- Đối với 34 con trâu còn sống, quá trình nuôi nhốt bị chết 02 con, cơ quan Điều tra đã tiêu huỷ chôn theo quy định. Còn lại 32 con trâu còn sống, cơ quan Điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng và thuê Công ty Đ hợp danh T Đồng Tháp bán đấu giá theo quy định nhưng không có người liên hệ mua. Do không có chuồng trại nuôi nhốt, thiếu thức ăn làm trâu ốm sụt ký và việc nuôi dưỡng tốn rất nhiều chi phí. Do đó, cơ quan Điều tra đã bán chỉ định 32 con trâu còn sống khối lượng 8.820kg được số tiền là 308.700.000 đồng. Sau khi thanh toán chi phí vận chuyển, kiểm dịch động vật, thuê mướn địa điểm, công người nuôi và thức ăn tổng cộng là 142.501.000 đồng, còn lại 166.199.000 đồng nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo 136 màu đen, gắn sim số 0965.330.478 và 01 đèn pin màu đen dài 23cm của Trần Kim T1 là quân nhân, do liên quan đến lực lượng Quân đội nên cơ quan Điều tra đã chuyển cho Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ xác minh, xử lý theo quy định.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh và 01 đèn pin màu đen của bị cáo Nguyễn Công L dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu.
Tại Cáo trạng truy tố số 09/CT-VKSĐT-P1 ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp truy tố Nguyễn Công L về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Công L về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Công L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo không có học vấn và sinh sống tại vùng biên giới, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Từ những phân tích trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công L mức án từ 02 năm tù đến 03 năm tù và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi của Trần Kim T1 là Phó Trạm trưởng Trạm Biên phòng B, do T1 là quân nhân liên quan đến lực lượng Quân đội, nên cơ quan Điều tra đã có văn bản chuyển hành vi của T1 cùng vật chứng là điện thoại di động và đèn pin đã thu giữ, đề nghị Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ xác minh, xử lý vi phạm của quân nhân theo quy định, nên không xem xét.
Đối với hành vi của Cao Minh D theo lời khai của bị cáo L là D thuê bị cáo L vận chuyển trâu từ Campuchia qua biên giới về Việt Nam, ngày 25-02-2025 cơ quan Điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thi hành Lệnh nhưng D không có mặt tại địa phương, đến nay chưa bắt được. Đồng thời, cơ quan Điều tra làm việc với gia đình để vận động D ra làm việc nhưng vẫn không có kết quả. Kết quả xác minh, D đã xuất cảnh sang Campuchia lần gần nhất là ngày 04-01-2025 qua cửa khẩu Quốc tế D1, chưa có thông tin nhập khẩu. Do chưa chứng minh được hành vi của D đồng phạm với bị cáo L hay phạm một tội khác, ngày 23-5-2025 cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định số 6520a/QĐ-CSKT, tách hành vi của Cao Minh D cùng tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 166.199.000 đồng là tiền thu được từ việc bán trâu do phạm tội mà có.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen; IMEI1: 863616038233879; IMEI2: 863616038233887; gắn sim số 0354.711.848 và 01 điện thoại di động hiệu S; kiểu Galaxy A12 màu xanh; IMEI1: 354312132031957; IMEI2: 355235622031956; gắn sim số 0335.02.02.44; mặt trước bị vỡ nứt của bị cáo Nguyễn Công L dùng vào việc phạm tội, được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số: 240 ngày 24/3/2025”, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Đặng Huy P1 và Cao An P2.
- Tịch thu tiêu hủy 01 đèn pin màu đen dài 06cm; ngang 07cm; rộng 3,5cm của bị cáo Nguyễn Công L dùng vào việc phạm tội, không có giá trị.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và lo cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra; phù hợp về mặt thời gian và địa điểm vận chuyển; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định ngày 24-02-2025 bị cáo Nguyễn Công L đã có hành vi vận chuyển trái phép 34 con trâu đen còn sống có tổng khối lượng 10.200kg trị giá 438.600.000 đồng từ Campuchia qua biên giới sông S về Việt Nam.
Khi thực hiện phạm tội, bị cáo là người trên 18 tuổi đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại của Nhà nước ta, làm xáo trộn và gây nguy hại nền kinh tế đất nước, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường và ổn định nền kinh tế quốc gia, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Công L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 của Bộ luật Hình sự.
Điều 189 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
b) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Chúng ta biết rằng việc “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại của Nhà nước ta, liên quan đến việc bảo vệ an ninh đất nước tại khu vực biên giới và trật tự an toàn xã hội. Do đó cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và có ích cho xã hội nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tại khu vực biên giới, nên áp dụng hình phạt chính là phạt tù đối với bị cáo.
Nhưng Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo trong việc lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Công L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo không có học vấn và sinh sống tại vùng biên giới, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi Trần Kim T1 là Phó Trạm trưởng Trạm Biên phòng B, do T1 là quân nhân liên quan đến lực lượng Quân đội, cơ quan Điều tra đã có văn bản chuyển hành vi của T1 cùng vật chứng là điện thoại di động và đèn pin đã thu giữ, đề nghị Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ xác minh, xử lý vi phạm của quân nhân theo quy định, là phù hợp.
Đối với hành vi của Cao Minh D theo lời khai của bị cáo L là D thuê bị cáo L vận chuyển trâu từ Campuchia qua biên giới về Việt Nam, ngày 25-02-2025 cơ quan Điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thi hành Lệnh nhưng D không có mặt tại địa phương nên đến nay chưa bắt được. Đồng thời, cơ quan Điều tra làm việc với gia đình để vận động D ra làm việc nhưng vẫn không có kết quả. Kết quả xác minh, D đã xuất cảnh sang Campuchia lần gần nhất là ngày 04-01-2025 qua cửa khẩu Quốc tế D1, chưa có thông tin nhập khẩu. Do chưa chứng minh được hành vi của D đồng phạm với bị cáo L hay phạm một tội khác, nên ngày 23-5-2025, cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định số 6520a/QĐ-CSKT về việc tách hành vi của Cao Minh D cùng tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau, là phù hợp.
Đối với một số người Campuchia không biết họ tên địa chỉ cụ thể, cơ quan Điều tra không đủ điều kiện để xác minh làm rõ theo quy định pháp luật, do vậy không xem xét, là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy tại phiên tòa, luận tội của Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo làm thuê, không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo, là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 166.199.000 đồng là tiền thu được từ việc bán trâu do phạm tội mà có.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen; IMEI1: 863616038233879; IMEI2: 863616038233887; gắn sim số 0354.711.848 và 01 điện thoại di động hiệu S; kiểu Galaxy A12 màu xanh; IMEI1: 354312132031957; IMEI2: 355235622031956; gắn sim số 0335.02.02.44; mặt trước bị vỡ nứt của bị cáo Nguyễn Công L dùng vào việc phạm tội, được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số: 240 ngày 24-3-2025”, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Đặng Huy P1 và Cao An P2.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 đèn pin màu đen dài 06cm; ngang 07cm; rộng 3,5cm của bị cáo Nguyễn Công L dùng vào việc phạm tội, không có giá trị.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo 136 màu đen; gắn sim số 0965.330.478 và 01 đèn pin màu đen dài 23cm của Trần Kim T1 là quân nhân, do liên quan đến lực lượng Quân đội, cơ quan Điều tra đã chuyển cho Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ xử lý theo quy định, là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Công L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 189; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 25-02-2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 166.199.000 đồng là tiền thu được từ việc bán trâu do phạm tội mà có.
Vật chứng đã được chuyển đến tài khoản số 39490105519400000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng( nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Đồng Tháp) tại Ngân hàng: Phòng G- Kho bạc Nhà nước khu vực XIX) theo biên giao nhận tài sản ngày 24-6-2025 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra công an tỉnh Đ và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Đồng Tháp).
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen; IMEI1: 863616038233879; IMEI2: 863616038233887; gắn sim số 0354.711.848 và 01 điện thoại di động hiệu S; kiểu Galaxy A12 màu xanh; IMEI1: 354312132031957; IMEI2: 355235622031956; gắn sim số 0335.02.02.44; mặt trước bị vỡ nứt của bị cáo Nguyễn Công L dùng vào việc phạm tội, được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số: 240 ngày 24-3-2025”, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên: Đặng Huy P1 và Cao An P2.
Tịch thu và tiêu huỷ 01 đèn pin màu đen dài 06cm; ngang 07cm; rộng 3,5cm của bị cáo Nguyễn Công L dùng vào việc phạm tội, không có giá trị.
(Vật chứng trên hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Đồng Tháp đang quản lý theo biên giao nhận tài sản ngày 24-6-2025 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đ và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Đồng Tháp).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Công L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30-7-2025).
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp. - VKSND tỉnh Đồng Tháp. - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Đồng Tháp. - Phòng HSNV CA tỉnh Đồng Tháp. - Trại tạm giam số 01 CA tỉnh Đồng Tháp. - VKSND khu vực 12 – Đồng Tháp. - Phân TTG, kho vật chứng khu vực Hồng Ngự. - Phòng THADS khu vực 12 – Đồng Tháp. - UBND xã Tân Hộ Cơ. - Công an xã Tân Hộ Cơ. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vũ Bình |