vanban.org

Bản án 06/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 29/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Nguyễn Hữu L cho Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hữu L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu L - Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Hữu L cho Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST
Ngày: 29-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thượng;

Ông Lê Xuân Cúc.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Trần Quang Duy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu L, sinh năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở theo Lý lịch bị can: Ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Nguyên T1 và 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 7/2019, L đang đi học tại Thành phố Hồ Chí Minh, L thấy trên mạng xã hội Facebook quảng cáo nhận làm Giấy phép lái xe mà không cần phải đi học, đi thi nên vào xem thì được tư vấn giới thiệu chỉ cần chụp hình ảnh chân dung và cung cấp thông tin cá nhân, trong khoảng thời gian từ 05 đến 07 ngày sẽ nhận được Giấy phép lái xe giao đến nhà. Do không có giấy phép lái xe ô tô nên L đã mua Giấy phép lái xe hạng C với số tiền 900.000 đồng. Lợi chụp ảnh chân dung và gửi thông tin cá nhân của mình để cung cấp cho người bán giấy phép lái xe giả, L được hẹn từ 05 đến 07 ngày sẽ nhận được Giấy phép lái xe thông qua bưu phẩm, L sẽ trả tiền cho nhân viên giao hàng thu hộ. L cung cấp địa điểm nhận giấy phép lái xe giả tại cổng K tại Thành phố T, thỏa thuận mua bán thông qua tin nhắn Facebook. Khoảng 07 ngày sau tính từ ngày đặt mua Giấy phép lái xe giả, có nhân viên giao hàng gọi điện thoại liên hệ đến cổng Ký túc xá và giao Giấy phép lái xe hạng C số 740157005883, ngày cấp 09/7/2019 mà L đã đặt mua qua Facebook cho L. L đã trả số tiền 900.000 đồng như đã thỏa thuận cho nhân viên giao hàng thu hộ. Sau khi nhận Giấy phép lái xe giả, L đã cất và không sử dụng. Đến đầu năm 2024, L xin vào làm nhân viên phụ giám sát, kiểm soát số lượng xe đổ đất ra vào công trình đang thi công cho Công ty V tại địa chỉ số F, đường T, ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng giữa tháng 6/2024, do một số tài xế xe ô tô chở đất cho Công ty nghỉ nên L nhận xe ô tô tải để chở đất cho Công ty để thi công các công trình. Khi L nhận xe thì L có cho ông Trần Trung T2, sinh năm 1974, ngụ ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là quản lý nơi L đang làm xem Giấy phép lái xe trên. Sau đó, ông T2 giao cho L xe ô tô biển số 70C – 135.62 để L điều khiển xe chở đất cho Công ty V. Đến ngày 06/02/2025, L điều khiển xe ô tô biển số 70C-135.62 lưu thông trên đường ĐT785 đoạn qua ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện T kiểm tra. Do lo sợ bị lập biên bản phạt về lỗi không có Giấy phép lái xe nên L đã xuất trình Giấy phép lái xe hạng C số 740157005883, ngày cấp 09/7/2019 mà L đã đặt mua qua Facebook vào năm 2019 cho lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra và bị tạm giữ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Kết luận giám định số 270/KL-KTHS ngày 16/02/202 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: 01 “Giấy phép lái xe” số 740157005883 hạng C; họ tên Nguyễn Hữu L, ngày sinh: 08/02/1997; nơi cư trú: X. S, H. D, T. T, cấp ngày 09 tháng 07 năm 2019, do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp là “Giấy phép lái xe” giả.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSKV11 ngày 07/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Vào ngày 06/02/2025, L biết rõ Giấy phép lái xe hạng C số 740157005883, mang tên Nguyễn Hữu L là giả nhưng vẫn sử dụng để điều khiển xe ô tô biển số 70C – 135.62 tham gia giao thông. Khi L đang lưu thông trên đường ĐT 785 đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh), do chở hàng hóa vượt quá kích thước giới hạn nên bị Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông thuộc Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh tuần tra tiến hành dừng xe kiểm tra, lập biên bản tạm giữ phương tiện cùng Giấy phép lái xe. Qua giám định xác định được Giấy phép lái xe nêu trên của L là giả. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính; gây mất an ninh, trật tự trị an xã hội. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo biết rõ việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo vì bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo; thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật; đồng thời cũng không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.

Đối với ông Trần Trung T2 có hành vi giao xe ô tô cho bị cáo điều khiển nhưng không biết Giấy phép lái xe hạng C của bị cáo là giả, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi điều khiển xe ô tô không có Giấy phép lái xe theo quy định của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển đến Phòng C Công an tỉnh T xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu L cho Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hữu L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ