- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS BA06 Đinh Thị H sdung tài liệu giả của cquan tchuc - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài li…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Thị H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-ST Ngày 15-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Đức Cơ và ông Phan Mạnh Tưởng.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Đinh Thị H, sinh năm 1992 tại xã T, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: thôn Quýt 3, xã T, huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974; chồng là Phùng Văn Q, có 04 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 08/8/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/8/2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 7/8/2024 ông Trần Quang H, sinh năm 1967, trú tại thôn K, xã A, huyện M, TP H đến Công an huyện Mỹ Đức trình báo: Ngày 05/8/2024, khi ông đang ở nhà tại thôn Kinh Đào, xã An Mỹ thì có Đinh Thị H, sinh năm 1992, trú tại thôn Quýt 3, xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức đến và nói bán đất và đưa cho ông 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 119, bản đồ số 28, mang tên Đinh Thị H. Ông H nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H mang đến là giả nên đã kiểm tra tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện Mỹ Đức, sau đó ông đến Công an huyện Mỹ Đức trình báo và giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Quá trình điều tra làm rõ:
Do có nhu cầu làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cầm cố vay tiền làm ăn, ngày 04/5/2024, Đinh Thị H sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “H Quân” lên mạng xã hội tìm kiếm hội nhóm là sổ đỏ giả, thấy có hội nhóm tên “Làm Sổ Hồng Sổ Đỏ Giả”, H nhắn tin vào nhóm này thì có một người nam giới đã sử dụng số điện thoại 0349.059.326 gọi điện đến số điện thoại 0352.719.194 của H (vì thông tin cá nhân Facebook của H để thông tin số điện thoại trên). Sau khi trao đổi biết H có nhu cầu muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giả); Người đó sử dụng tài khoản Zalo tên “Dương V” kết bạn với tài khoản Zalo tên “Ngọc Lâm An A” đăng ký bằng số điện thoại 0352.719.194 của H yêu cầu H gửi các thông tin có liên quan gồm: Ảnh căn cước công dân, số thửa đất, số tờ bản đồ và vị trí đất, diện tích đất cần làm sổ. Đinh Thị H lấy thông tin từ thửa đất của ông Đinh Văn Thành- sinh năm 1972, thôn Quýt 3, xã Tuy Lai (là bố đẻ H) chuyển đến đối tượng giao dịch; Người này yêu cầu H chuyển đến số tiền là 10.000.000đồng làm lệ phí. H sử dụng tài khoản ngân hàng Agribank, số tài khoản: 2200205833442 của cá nhân chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng MB bank, STK: 9704229209024989220 mang tên DINH VU HUNG của người này nhiều lần gồm: lần thứ nhất ngày 4/5/2024 chuyển 500.000đ, lần 2 ngày 5/5/2024 chuyển 1.000.000đ, lần 3 ngày 7/5/2024 chuyển 3.500.000đ, lần 4 ngày 14/5/2024 chuyển 1.000.000đ, lần 5 ngày 17/5/2024 chuyển 3.800.000đ, tổng số tiền H chuyển cho người này là 9.800.000đồng (do H xin người này 200.000 đồng). Ngày 17/5/2024 có người giao hàng mang sổ đỏ mang tên H đến địa điểm nơi H đang bán hàng ở chợ Phùng KHng, quận Thanh Xuân giao cho H.
Ngày 05/8/2024 Đinh Thị H mang sổ đỏ nêu trên đến nhà gặp ông H (cùng vợ là bà Lê Thị TH, sinh năm 1974) ở khu vực ngã tư Kinh Đào, xã An Mỹ, định dùng làm vật cầm cố nhờ vay giúp với số tiền khoảng 300 triệu đến 400 triệu đồng. Ông H nghi ngờ nên kiểm tra, Đinh Thị H lo sợ nên “nại” lý do là nhờ anh Thọ ở cùng thôn làm hộ và đã đưa cho anh Thọ số tiền 200 triệu đồng. Ông H nói với H nếu là sổ giả thì ông sẽ gặp anh Thọ để đòi lại tiền giúp, sau đó mang số đỏ đến Công an huyện Mỹ Đức trình báo.
Ngày 27/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đức ra quyết định trưng cầu giám định tới Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội đối với 01 giấy chứng nhận quyền sử đụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Đinh Thị H.
Ngày 03/10/2024, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận giám định số 7006/KL-KTHS:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 542196 cần giám định ký hiệu A là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả.
Về các thông tin thửa đất (ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng) cơ quan điều tra xác định: Năm 2019 gia đình ông Thành, bà Vinh (là bố mẹ đẻ của H) có nhờ anh Nguyễn Văn Thọ, sinh năm 1983, trú tại thôn Quýt 3, xã Tuy Lai, hiện là Thanh tra viên, thanh tra huyện Mỹ Đức làm giúp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình (nộp thuế đất), khi làm xong ông Thành trực tiếp đi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình nên việc Đinh Thị H làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả anh Thọ không biết. Khi anh Thọ có biết sự việc trên và gọi cho mẹ H hỏi có tặng gì cho H để tách sổ đỏ không, bà Nguyễn Thị Vinh trả lời anh Thọ là không tách sổ cho H, anh Thọ có nói chuyện với H hỏi việc H làm sổ đỏ giả, H muốn che giấu nên trả lời là không làm, anh Thọ bảo H nếu là sổ đỏ giả thì hủy đi nH lúc đó ông H đã mang đi giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Cáo trạng số 98/CT-VKS-MĐ ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố Đinh Thị H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng, nhất trí với tội danh, nội dung điều luật áp dụng mà Cáo trạng đã truy tối đối với bị cáo.
Phía ông Thành và bà Vinh (bố mẹ của bị cáo) xác nhận: Không biết việc chị H đặt làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa số 19, tờ bản đồ số 18, địa chỉ tại xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm về tội danh, điều luật truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị như sau:
Về mức hình phạt đối với bị cáo Đinh Thị H từ 06 – 09 tháng tù nH cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 – 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo do không có điều kiện thi hành án.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, số Imel 1: 353844852383482, Imel 2: 35384485256756 bên trong lắp sim số thuê bao 0352.719.194 là điện thoại bị cáo dùng để liên hệ thực hiện hành vi phạm tội.
Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa H một lần nữa thừa nhận do có nhu cầu về tiền nên vào khoảng đầu tháng 5/2024, H đã lên mạng xã hội Facebook và tìm kiếm được hội nhóm làm “Sổ đỏ giả” và tự ý lấy thông tin thửa đất của bố mẹ đẻ là ông Thành và bà Vinh để làm giả được giấy chứng nhận QSD đất có số sery CU 542196 ngày 02/5/2024, H đã mang giấy chứng nhận này đến nhà ông H để đặt vấn đề cầm cố nhờ ông H vay tiền hộ, nH khi chưa vay được tiền do Ông H chưa đồng ý vay hộ đã bị phát hiện giấy chứng nhận của H được làm giả. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nH vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội và bị Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo Đinh Thị H về tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là coi thường pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính của Nhà nước, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính.
Xét hành vi của bị cáo: Bị cáo nhận thức rõ hành vi làm giấy chứng nhận QSD đất giả của cơ quan nhà nước để nhằm mục đích vay tiền làm ăn là hành vi trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự, nH do cần tiền làm ăn nên bị cáo đã bất chấp, có hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp mức dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần thiết xem xét co bị áo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cụ thể: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh có 03 con nhỏ ( con thứ ba dưới 36 tháng tuổi) nên cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo cơ hội được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo và thể hiện sự kHn hồng của nhà nước đối với người phạm tội lần đầu và biết ăn năn hối cải.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, số Imel 1: 353844852383482, Imel 2: 35384485256756 bên trong lắp sim số thuê bao 0352.719.194 của Đinh Thị H.
Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng sử dụng tài khoản 09704229209024989220 mở tại ngân hàng MBBank để nhận số tiền do H đặt làm sổ đỏ giả, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đức đã tra cứu số tài khoản trên mang tên Đinh Vũ Hùng, trú tại: Ấp 2B, Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, quá trình xác minh xác định Đinh Vũ Hùng đã đi khỏi địa phương từ năm 2023, đi đâu, làm gì, gia đình và chính quyền địa phương không biết nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để kết luận.
Đối với anh Nguyễn Văn Thọ do không biết và không liên quan đến việc Đinh Thị H làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đức không xử lý là có căn cứ.
Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đinh Thị H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Thị H 12 tháng tù nH cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo H cho Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, số Imel 1: 353844852383482, Imel 2: 35384485256756 bên trong lắp sim số thuê bao 0352.719.194.
Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/12/2024 giữa Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
2. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức; - Cơ quan THAHS huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Tuy Lai (thay TBKQXX); - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu VT, HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng |