- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LỤC THI NG"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lục Thị Ng
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2025 “V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng, bà Nguyễn Thị Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể – Thư ký viên TAND khu vực 9.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng – C/v: Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 73/2025/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 11/7/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lục Thị Ng, sinh năm 1991. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Xóm L, xã Ch, tỉnh Cao Bằng
Bị đơn: Anh Nông Văn L, sinh năm 1986. Có mặt
Địa chỉ: Thôn 2, xã W, tỉnh Lâm Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 16/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án chị Lục Thị Ng trình bày:
Chị Lục Thị Ng và anh Nông Văn L ký kết hôn năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã W, huyện J, tỉnh Đăk Nông (cũ), nay là Ủy ban nhân dân xã W, tỉnh Lâm Đồng. Việc kết hôn là do anh chị tự nguyện. Sau khi kết hôn được một thời gian đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do trong cuộc sống chị Ng và anh L bất đồng với nhau về quan điểm, vợ chồng thường xảy ra xô xát, cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Hôn nhân của chị Ng với anh L không có hạnh phúc, chị Ng và anh L không còn chung sống với nhau từ năm 2024 đến nay. Nay chị Ng không còn tình cảm với anh L, vì vậy, chị Ng làm đơn khởi kiện ly hôn với anh L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Ng và anh L có ba người con chung là Nông Hồng Nh, sinh ngày 19/10/2024, Nông Mạnh H, sinh ngày 05/4/2018 và Nông Minh H, sinh năm 2021 (chết năm 2024). Chị Ng hiện tại chưa có riêng, các con chung hiện đang ở với anh L nên chị Ng đồng ý giao các con chung cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung đến tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lục Thị Ng đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Nông Văn L trình bày: Anh L và chị Ng kết hôn năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã W, huyện J (cũ) nay là Ủy ban nhân dân xã W, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn đến năm 2023 vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn do trong cuộc sống chị Ng và anh L bất đồng với nhau về quan điểm, vợ chồng thường xảy ra xô xát, cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Anh L và chị Ng không còn chung sống với nhau từ năm 2024 đến nay. Nay chị Ng khởi kiện ly hôn với anh L thì anh L đồng ý.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh L và chị Ng có ba người con chung là Nông Hồng Nh, sinh ngày 19/10/2024, Nông Mạnh H, sinh ngày 05/4/2018 và Nông Minh H, sinh năm 2021 (chết năm 2024). Anh L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nông Hồng Nh, sinh ngày 19/10/2024, Nông Mạnh H, sinh ngày 05/4/2018 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Ng đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chị Lục Thị Ng được ly hôn anh Nông Văn L.
Về yêu cầu con chung: Giao hai con chung Nông Hồng Nh, sinh ngày 19/10/2024, Nông Mạnh H, sinh ngày 05/4/2018 con cho anh Nông Văn L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung anh L không yêu cầu chị Ng đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét
Về án phí: Buộc chị Lục Thị Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Lục Thị Ng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nông Văn L và giải quyết về con chung. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nông Văn L có nơi cư trú tại thôn 2, xã W, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về hôn nhân:
Chị Lục Thị Ng và anh Nông Văn L kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã W. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo điều 8, điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Lục Thị Ng: Năm 2010 chị Ng và anh L kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã W, việc kết hôn là do anh chị tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng anh chị không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Chị Ng và anh L đã không còn chung sống với nhau từ năm 2024 đến nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương từ cả hai phía vợ, chồng; dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của nhau. Chị Ng không còn tình cảm với anh L, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Như vậy, xét yêu cầu khởi kiện của chị Ng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng đối với nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và những căn cứ trên để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lục Thị Ng.
[3.2]. Về nuôi con chung: Chị Lục Thị Ng và anh Nông Văn L có 03 người con chung là Nông Hồng Nh, sinh ngày 19/10/2024, Nông Mạnh H, sinh ngày 05/4/2018 và Nông Minh H, sinh năm 2021 (chết năm 2024). Anh L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành. Các con chung Nông Hồng Nh, sinh ngày 19/10/2024, Nông Mạnh H, sinh ngày 05/4/2018 có nguyện vọng được ở với với anh L và từ khi chị Ng và anh L không còn chung sống với nhau thì các con chung cũng do anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao các con chung Nông Hồng Nh và Nông Mạnh H cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không yêu cầu chị Ng đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị Lục Thị Ng phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lục Thị Ng
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Thị Ng được ly hôn anh Nông Văn L.
* Về yêu cầu nuôi con chung: Giao các con chung Nông Hồng Nh, sinh ngày 19/10/2024, Nông Mạnh H, sinh ngày 05/4/2018 cho anh Nông Văn L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến tuồi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh L không yêu cầu chị Ng đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn chị Ng, anh L có các quyền, nghĩa vụ theo các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình như sau:
- Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về án phí: Buộc chị Lục Thị Ng phải nộp số tiền 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005462, ngày 22 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút.
* Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND khu vực 9; - Phòng THADS khu vực 9; - UBND xã Đăk Wil; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tím i rõ họ tên) |