- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Y-Đỗ Văn S"
- Tòa quyết gì? nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày 22-7-2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Seo Vần.
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết.
Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6,
tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh Lào Cai tham gia phiên
tòa: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6, tỉnh
Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Y, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện B, tỉnh L (Nay là xã X, tỉnh L). Vắng mặt
và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Đặng Văn S, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện B, tỉnh L (Nay là xã X, tỉnh L). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án và bản tự khai cũng như trong quá
trình giải quyết vụ án, chị Đặng Thị Y trình bày:
Chị và anh Đặng Văn S chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm
2000, anh chị được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương nhưng anh chị không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi anh chị về chung sống hạnh phúc một thời gian đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Từ đó vợ chồng hay xẩy ra cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống không hạnh phúc, mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2022 không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn S theo quy định.
Về con chung: Anh chị có một người con chung tên là Đỗ Minh Đ, sinh
ngày 10/01/2001. Hiện nay cháu phát trưởng bình thường và đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, do anh Đặng Văn S đi làm ăn xa, không
thường xuyên có mặt tại địa phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh San và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đối với vụ án này, Tòa án không hòa giải về quan hệ hôn nhân vì các
đương sự không đăng ký kết hôn. Toà án đã tiến hành phiên họp công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 phát biểu ý kiến
trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: Về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định.
Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng;
Bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đặng Thị Y và anh Đặng Văn S. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị Y khởi kiện xin ly hôn với anh Đặng
Văn S. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai (Nay là xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai). Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Y và anh Đặng Văn S chung sống
như vợ chồng từ đầu năm 2000 đến nay nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chị Ý cũng đã có đơn và được Uỷ ban nhân dân xã Xuân Quang xác nhận chị Ý và anh San không đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng là đúng.
Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ
chồng bất đồng quan điểm trong cách làm ăn tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dậy con cái, từ đó vợ chồng hay xẩy ra cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng anh chị sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau, mỗi người một nơi. Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh San không thường xuyên có mặt tại địa phương, vì vậy Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Mâu thuẫn của vợ chồng chị Ý đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật, vì vậy việc chị Ý xin ly hôn với anh San là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống anh chị có mâu thuẫn và không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đặng Thị Y và anh Đặng Văn S theo quy định tại Khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.
Do anh Đặng Văn S đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt tại địa
phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh San và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, chị Đặng Thị Y vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu của mình. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị Đặng Thị Y và anh Đặng Văn S là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có một người con chung
tên là Đỗ Minh Đ, sinh ngày: 10/01/2001, hiện tại cháu phát triển bình thường. Khi ly hôn cháu Đỗ Minh Đ đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên chị Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị Ý trình bày về tài sản
chung anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết; Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Đặng Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn
nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
giữa chị Đặng Thị Y và anh Đặng Văn S.
2. Về án phí: Chị Đặng Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000
đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002507 ngày 27/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6, tỉnh Lào Cai); Chị Đặng Thị Y đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị
đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; - VKSND Khu vực 6 (2); - Phòng THADS Khu vực 6; - UBND xã Xuân Quang; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bích Thủy TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |