vanban.org

Bản án 06/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Sần Chính M, cho ly hôn giữa Chị Sần Chính M và anh Ly Tề C.

Về con chung: Giao cháu Ly A M1 - sinh ngày: 06/01/2017 cho Chị Sần Chính M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc đến khi có thay đổi khác. Không đề cập giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Sần Chính M xin ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Ly Tề C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Sần Chính M, cho ly hôn giữa Chị Sần Chính M và anh Ly Tề C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Văn Hàm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Hặc và ông Hạng Sáy Dua.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Tất Lơ - Thư ký viên, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vự 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2025/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 7 năm 2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Sần Chính M - Sinh năm: 1994;

Địa chỉ: Bản T, xã N, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Ly Tề Chính - Sinh năm: 1985;

Địa chỉ: Bản T, xã N, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/7/2025 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Chị Sần Chính M trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2016 Chị Sần Chính M và anh Ly Tề C quen biết, tìm hiểu yêu nhau sau đó tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và chung sống với nhau một thời gian, đến ngày 26/4/2017 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên (nay là xã N, tỉnh Điện Biên). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc hay cản trở. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì hai vợ chồng đi làm ăn xa, mỗi người một nơi, thỉnh thoảng mới gặp nhau. Từ năm 2023 vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Mao đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh C.

Về con chung: Anh chị có một con là cháu Ly A M1 - Sinh ngày: 06/01/2017. Chị Sần Chính M có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động vì cháu Ly A M1 là con riêng của chị; Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu anh Ly Tề C phải cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết gì.

Tại phiên tòa hôm nay chị M có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc không đến tham dự được.

Tại bản tự khai ngày 28/7/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn Anh Ly Tề C trình bày:

Về hôn nhân: Anh và Chị Sần Chính M đăng ký kết hôn vào ngày 26/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên (nay là xã N, tỉnh Điện Biên), kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay cản trở. Từ khi kết hôn cho đến tận bây giờ vợ chồng sống với nhau hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên vợ chồng phải đi làm ăn xa nhà, từ khi ăn tết xong năm 2023 chị M đi làm ăn xa không trở về nhà, đến đầu năm 2025 chị M có quay trở về nhà bố mẹ đẻ cùng bản để ở, anh C có đi đón nhưng chị M nhất quyết không về, hiện tại Chị Sần Chính M có đơn xin ly hôn, anh C không nhất trí ly hôn vì anh C vẫn đang còn yêu thương vợ.

Về con chung: Anh chị có một con là cháu Ly A M1 - Sinh ngày: 06/01/2017. Anh Ly Tề C cũng thừa nhận cháu Ly A M1 không phải là con ruột của anh, nhưng do anh đã nuôi dưỡng cháu từ bé, thương con còn nhỏ vì vậy anh có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho đến khi cháu M1 thành niên và có khả năng lao động; Về cấp dưỡng nuôi con anh không yêu Chị Sần Chính M phải cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp Chị Sần Chính M nhất quyết ly hôn thì anh C tôn trọng nguyện vọng của con, con lựa chọn ở với ai thì người đó sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động.

Về quan hệ tài sản: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết gì.

Tại đơn xin xác nhận của Chị Sần Chính M có xác nhận của UBND xã N thể hiện nội dung như trình bày trên của chị M.

Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 24/6/2025 của cháu Ly A M1 trình bày: Nếu trường hợp bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu muốn ở với mẹ là Chị Sần Chính M.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và quá trình xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 69, 70, 81; 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Sần Chính M, chị Mao được ly hôn với anh Ly Tề C.

- Về con chung: Giao cháu Ly A M1, sinh ngày 06/01/2017 cho Chị Sần Chính M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng khi đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) và đủ khả năng lao động. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi cháu Ly A M.

Anh C được quyền đi lại thăm nom cháu không ai được quyền cản trở. Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể được thay đổi sau ly hôn khi có yêu cầu.

- Về án phí: Miễn án phí Dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng chứ đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả hỏi tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đẩy đủ ý kiến của bị đơn tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 16/7/2025 Chị Sần Chính M nộp đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2025 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn tại Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với anh Ly Tề C, địa chỉ: Bản T, xã N, tỉnh Điện Biên. Chị M có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngày 16/7/2025 chị M được chấp nhận miễn nộp tạm ứng án phí, cùng ngày Tòa án đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị M theo khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa Chị Sần Chính M và anh Ly Tề C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà hôm nay, Chị Sần Chính M có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện:

Về hôn nhân: Chị Sần Chính M và anh Ly Tề C kết hôn trên cơ sở tự nguyện không ai bị mất năng lực hành vi dân sự, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn ngày 26/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên (Nay là xã N, tỉnh Điện Biên), các bên kết hôn khi đã đủ điều kiện kết hôn. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị M, anh C là hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do hai người đi làm ăn xa, sống xa cách nhau nên không ai quan tâm đến nhau. Những nội dung trên các bên đều thừa nhận, như vậy có đủ cơ sở kh ng định việc vợ chồng không còn hạnh phúc, có mâu thuẫn là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định chị M và anh C đi làm ăn xa nhà không sống cùng nhau, dẫn đến không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ hay chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình với nhau. Do đó, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị M có đơn xin ly hôn, anh C có ý kiến muốn kéo dài thời gian ly hôn để hòa giải cho anh chị. Hội đồng xét xử thấy rằng chị M kh ng định tình cảm của chị với anh C không còn, cho nên có kéo dài việc ly hôn và hòa giải cũng không có kết quả. Tại phiên hòa giải tại Tòa án anh C lại vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị M cho ly hôn giữa Chị Sần Chính M với anh Ly Tề C.

Về con chung: Chị M và anh C có con chung là cháu Ly A M1 sinh ngày 06/01/2017. Chị M có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Ly A M1 có nguyện vọng được ở với chị M và chị M muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Do vậy để đảm bảo cháu được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi và giới tính của cháu, Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ các quy định tại các Điều 58, 69, 70, 81; 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu và nguyện vọng của chị M. Chị Sần Chính M không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét.

Về tài sản và nợ: Các đương sự không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về Án phí: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cho Chị Sần Chính M được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm của vụ án do Chị Sần Chính M là người dân tộc thiểu số cư trú tại nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn tiền án phí.

Về ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 69, 70, 81; 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Sần Chính M, cho ly hôn giữa Chị Sần Chính M và anh Ly Tề C.

2. Về con chung: Giao cháu Ly A M1 - sinh ngày: 06/01/2017 cho Chị Sần Chính M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc đến khi có thay đổi khác.

Không đề cập giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có thể thay đổi, Tòa án sẽ xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản và nợ: Không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Chị Sần Chính M được miễn toàn bộ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Chị Sần Chính M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; anh Ly Tề C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/9/2025). Nơi Nhận:

Cỡ chữ