vanban.org

Bản án 06/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T được ly hôn ông Hà Trường S Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-7-2025
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Quyền

2. Ông Nguyễn Tấn Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 97/2025/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 04 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1976

Nơi cư trú: Tổ dân phố LS, phường CR, tỉnh Khánh Hòa; (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Ông Hà Trường S, sinh năm 1966

Nơi cư trú: Tổ dân phố LS, phường CR, tỉnh Khánh Hòa (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Vũ Thị T trình bày:

Tôi và ông Hà Trường S tự nguyện tìm hiểu, được sự đồng ý của hai bên gia đình, chúng tôi tổ chức cưới hỏi rồi chung sống với nhau từ năm 1998, có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn ST, huyện ST, tỉnh PT cấp giấy chứng kết hôn số 13, quyển số 01 ngày 09/7/1998. Trong thời gian chung sống tôi và ông S đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tôi và ông S bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên kình cãi, xúc phạm. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng chúng tôi vẫn hàn gắn được. Nay thấy mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể chung sống với nhau được nữa nên tôi yêu cầu được ly hôn với ông Hà Trường S.

Về con chung: Tôi và ông S có hai con chung là Hà Vũ Quốc Trung, sinh ngày 19/8/1999 và Hà Vũ Bảo Thy, sinh ngày 20/12/2011. Hiện nay con chung Hà Vũ Quốc Trung đã thành niên nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tôi yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hà Vũ Bảo Thy. Tôi không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Hà Trường S trình bày:

Tôi và bà Vũ Thị T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn ST, huyện ST, tỉnh PT cấp giấy chứng kết hôn số 13, quyển số 01 ngày 09/7/1998.

Trong quá trình chung sống với vợ chồng vẫn chung sống bình thường, vẫn có mâu thuẫn nhưng không đến mức trầm trọng. Những năm gần, do cuộc sống có nhiều khó khăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống nên bà T nộp đơn ly hôn. Tuy nhiên, vì con cái và gia đình tôi vẫn muốn vợ chồng đoàn tụ nên tôi không đồng ý ly hôn theo đơn của bà T.

- Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Hà Vũ Quốc Trung, sinh năm 1999 và Hà Vũ Bảo Thy, sinh ngày 20/12/2011. Tôi yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Vũ Bảo Thy, cháu Trung đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa giải quyết. Tôi không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phát biểu tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Khánh Hòa kết luận:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về “Ly hôn”, do bị đơn cư trú tại phường CR nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2

- Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T bà ông Hà Trường S tự nguyện chung sống, kết hôn và được UBND thị trấn ST, huyện ST, tỉnh PT (Nay là xã Cẩm Khê, tỉnh PT) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, quyển số 01 ngày 09/7/1998. Do đó, hôn nhân giữa bà T và ông S là hôn nhân hợp pháp. Tại lời khai của nguyên đơn, bị đơn và biên bản xác minh tại địa phương Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Thị T và ông Hà Trường S có mâu thuẫn và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Bà Vũ Thị T và ông Hà Trường S có hai con chung là Hà Vũ Quốc Trung, sinh năm 1999 và Hà Vũ Bảo Thy, sinh ngày 20/12/2011. Bà T và ông S đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Hà Vũ Bảo Thy. Con chung là Hà Vũ Quốc Trung đã đủ 18 tuổi nên bà T, ông S không yêu cầu giải quyết.

Xét thấy: Khi cha mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần của con. Con chung Hà Vũ Bảo Thy có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

- Các Điều 28, 227, 228, 238 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T được ly hôn ông Hà Trường S

2. Về con chung: Bà Vũ Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hà Vũ Bảo Thy, sinh ngày 20/12/2011. Con chung là Hà Vũ Quốc Trung, sinh năm 1999 đã đủ 18 tuổi, bà T, ông S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Vũ Thị T không yêu cầu nên không xem xét.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp chăm sóc nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.

4. Về án phí: Bà Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001842 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố CR (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Khánh Hòa).

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ