vanban.org

Bản án 06/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị M; Xử cho bà Phan Thị M được ly hôn với ông Lê Thanh H.

Về con chung: Giao con là Lê Thanh Tuấn Kh, sinh ngày 07/12/2010 và Lê Thanh Tuấn A, sinh ngày 08/12/2017 cho bà Phan Thị M được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật. Ông Lê Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Than… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị M; Xử cho bà Phan Thị M được ly hôn với ông Lê Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 01-8-2025
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Quốc Thanh

2. Ông Đào Danh Tuất

- Thư ký phiên tòa:

Ông Bùi Văn Hiếu

Ngày 01 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị M, sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ 9, ấp 4B, xã Bàu Lâm, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Bị đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm: 1988; địa chỉ: Tổ 9, ấp 4B, xã Bàu Lâm, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phan Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị M và ông Lê Thanh H tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau vào năm 2010, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 06/10/2015. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Bà M và ông H sống chung với nhau hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xảy ra xô xát. Bà M và ông H đã cố gắng hòa giải mâu thuẫn để hàn gắn hạnh phúc nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không níu kéo hạnh phúc được nữa. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thanh H.

Về con chung: Trong thời gian sống chung, bà Phan Thị M và ông Lê Thanh H có 02 (hai) con chung, cháu tên Lê Thanh Tuấn Kh, sinh ngày 07/12/2010 và cháu Lê Thanh Tuấn A, sinh ngày 08/12/2017. Hiện nay các con đang sống chung với bà M, khi ly hôn bà M yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cả 2 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn ông Lê Thanh H:

Theo phiếu xác minh của Toà án tại công an xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, kết quả xác minh ông Lê Thanh H có hộ khẩu thường trú tại địa phương, tại thời điểm xác minh ông H có sinh sống tại ấp 4B, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông Lê Thanh H hiện nay vẫn thường xuyên sinh sống tại địa chỉ hộ khẩu thường trú trên.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự cho ông Lê Thanh H tại địa chỉ nơi cư trú nhưng ông H vẫn không có mặt theo thông báo của Tòa án. Ông H cũng không có văn bản ghi ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ theo đơn khởi kiện của bà Phan Thị M và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Lê Thanh H có nơi cư trú tại xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là xã Bàu Lâm, thành phố Hồ Chí Minh) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Thanh H đến phiên tòa nhưng ông H vắng mặt không có lý do; căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy, bà Phan Thị M và ông Lê Thanh H chung sống vợ chồng với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là uỷ ban nhan dân xã Bàu Lâm, thành phố Hồ Chí Minh), hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông H là hôn nhân hợp pháp. Đối với ông H, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa tuy nhiên ông H vắng mặt không có lý do, có thái độ trốn tránh, không có thiện chí hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng mặc dù vẫn thường xuyên sinh sống tại địa phương chứng tỏ ông H đã bỏ mặc không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà M.

Qua các chứng cứ và lời khai của các đương sự chứng tỏ mâu thuẫn gia đình giữa bà M và ông H là có thật và không hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; như vậy yêu cầu ly hôn của bà M là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà M được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà Phan Thị M và ông Lê Thanh H có với nhau 02 (hai) con chung, cháu tên Lê Thanh Tuấn Kh, sinh ngày 07/12/2010 và cháu Lê Thanh Tuấn A, sinh ngày 08/12/2017. Xét thấy bà M có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; các con của bà M và ông H đều có nguyện vọng được sống chung với bà M sau khi bà M và ông H ly hôn; việc làm và thu nhập của bà M ổn định; ông H cũng không có ý kiến gì về con chung nên Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Lê Thanh Tuấn Kh, sinh ngày 07/12/2010 và cháu Lê Thanh Tuấn A, sinh ngày 08/12/2017 cho bà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung:

- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Phan Thị M khai nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án, của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Phan Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm; ông Lê Thanh H không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị M; Xử cho bà Phan Thị M được ly hôn với ông Lê Thanh H.

2. Về con chung: Giao con là Lê Thanh Tuấn Kh, sinh ngày 07/12/2010 và Lê Thanh Tuấn A, sinh ngày 08/12/2017 cho bà Phan Thị M được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật. Ông Lê Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như xem xét về việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung:

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Đương sự khai nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Phan Thị M phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000294, ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc (Nay là thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh); bà M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Lê Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bà Phan Thị M biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Lê Thanh H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo qui định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Hiền

Cỡ chữ