- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Th - Nguyễn Trân A"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Trâm A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 25 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/01/2025 V/v: “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Sô Phép
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Tiến
Bà Chung Kim Sang
Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Sà Ron – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục chung vụ án thụ lý số 126/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 04 năm 2024, về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1989 (có mặt)
ĐKTT: Số nhà F ấp P, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Chổ ở hiện nay: Nhà trọ số A đường N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Trâm A, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà F ấp P, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 04/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày: Tôi và anh A quen biết do mai mối, hai bên tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 2008, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật và được UBND xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/8/2009.
Nguyên nhân xin ly hôn: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cách sống hàng ngày, tính tình đôi bên không phù hợp, anh A hay ghen tuông vô cớ, có lời lẽ thô tục hay xúc phạm tới tôi và nhiều lần hâm dọa đòi chém tôi, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi, tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh A nên làm đơn xin ly hôn với anh A.
- Về con chung: Chị Lê Thị T xác định có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 15/11/2009, hiện con đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng người con chung cho đến tuổi trưởng thành, chị T không yêu cầu anh A1 cấp dưỡng nuôi con.
Chị T xác định hiện nay chị không có mang thai.
- Về tài sản, nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Trâm A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà cho anh Nguyễn Trâm A theo đúng trình tự do Bộ luật tố tụng dân sự quy định, nhưng anh A không có ý kiến trình bày và vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục sơ thẩm đến thời điểm này về cơ bản Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án là chưa đảm bảo đúng quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà: Đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh Nguyễn Trâm A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rỏ lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ quy định các Điều 51, 56, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, việc chị T cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng nên xin ly hôn là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Ngọc A1 vẫn do chị T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu. Về vấn đề cấp dưỡng cũng như nợ chung, tài sản chung, chị T không yêu cầu xem xét trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị T khởi kiện yêu cầu “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với anh Nguyễn Trâm A. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn anh Nguyễn Trâm A vẫn vắng mặt không rõ lý do và chị T đồng ý xét xử vắng mặt anh A. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh A.
Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án nhận thấy do vụ án cần có thời gian điều tra, xác minh nên kéo dài thời gian, vi phạm thời hạn xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh A tự quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết theo quy định pháp luật và được Ủy ban nhân dân xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/8/2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh A, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng chị T và anh A không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cách sống hàng ngày, tính tình đôi bên không phù hợp, anh A hay ghen tuông vô cớ, có lời lẽ thô tục hay xúc phạm tới chị T và nhiều lần hâm dọa đòi chém chị T, vợ chồng có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian chị T, anh A sống ly thân nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh A là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ những cơ sở nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh A.
Về quan hệ con chung: Chị T xác định có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 15/11/2009, hiện con đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung cho đến tuổi trưởng thành. Tại biên bản trình bày nguyện vọng của cháu Ngọc A1 vào ngày 07/11/2024, nếu cha mẹ ly hôn cháu muốn sống chung với mẹ. Như vậy, yêu cầu của chị T phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngọc A1. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao người con chung cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị T không yêu cầu anh A1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Trâm A không có ý kiến trình bày tại Tòa án về vấn đề con chung, tài sản chung, nợ chung; nếu sau này anh A có tranh chấp về các vấn đề trên thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá về quan điểm giải quyết vụ án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Trâm A.
2. Về con chung: Giao 01 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 15/11/2009 cho chị Lê Thị T chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị T không yêu cầu anh A1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh A1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về nợ chung: Chị Lê Thị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Thị T cam kết ly hôn không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với người khác.
5. Về án phí: Buộc chị Lê Thị T phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, chị T được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004417 ngày 02/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND Tp. Rạch Giá; - Chi cục THA dân sự Tp. Rạch Giá; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Sô Phép |